|
 |
|
Hồ Gươm, Hà Nội. |
Giữa quận Hoàn Kiếm và cũng là trung tâm của thủ đô Hà Nội có một cái hồ, gọi là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm. Không rộng lắm, chu vi chừng 1.700m.
Đây là một cảnh đẹp nổi tiếng của Hà Nội. Hồ Gươm có sức hút của đá nam châm. Ai ở xa, khi nhớ Hà Nội, cảnh đầu tiên hiện lên màn ảnh trí não hẳn là cảnh Hồ Gươm có cầu Thê Húc vạch mấy nét ấm vào một buổi sớm lạnh sương. Và Hồ Gươm trông mát như một tảng thạch đen giải khát vào ngày hè nóng nực. Rồi Hồ Gươm đêm pháo hoa, Hồ Gươm đêm giao thừa. Hồ Gươm in trên bưu ảnh gửi bạn phương xa, vẽ trên phông vải hiệu ảnh phố huyện làm nền cho bức ảnh cô gái đứng bên người yêu hay cặp vợ chồng mới cưới. Khách nước ngoài đến Hà Nội cũng thích chụp một bức ảnh đứng trên bờ Hồ Gươm.
Hồ Gươm là một “vật lưu niệm” của sông Cái (Nhĩ Hà). Thuở xa xưa, sông Cái lượn sâu trong đất liền. Trải qua nhiều phen dâu bể, sông lùi ra xa, còn để lại một mảng làm lưu niệm. Mảng sông ấy chính là Hồ Gươm. Sông rất chu đáo: vừa để lại phần nước, vừa để lại phần đất. Hòn đảo Ngọc Sơn giữa hồ bây giờ là một doi cát của sông xưa.
Đảo Ngọc Sơn là một phần không thể thiếu của cảnh Hồ Gươm. Nó giúp cho cảnh hồ được hoàn chỉnh. Ông cha ta ưa sự hài hòa giữa non và nước. Đến hòn non bộ cỏn con trong vườn cảnh cũng được đặt giữa một bể nước. Trong thiên nhiên rộng lớn, có non mà vắng nước thì non hóa khô tẻ, có nước mà vắng non thì nước hóa phẳng trơ. Non và nước có duyên “giao ước kết đôi” như thơ Tản Đà đã nói.
Khoảng đất Ngọc Sơn điểm vào mặt bằng của Hồ Gươm một hòn đảo xanh, một dáng núi xanh (tuy trong thực tế không có núi). Xen với màu xanh của cây và soi trên nền xanh của nước là những mảng trắng của tường đền, những đường cong đỏ của mái đình “Trấn Ba” (dẹp sóng), vành cong đỏ của cầu có lẽ đã được tạo cho đúng với cái tên Thê Húc (nghĩa là Ánh sáng mặt trời ban mai đậu lại).
Ngọc Sơn có thể coi như hòn đảo yên tĩnh giữa chỗ huyên náo phố phường. Chỉ đi qua mấy nhịp cầu nho nhỏ là ta đã đến được nơi xa vắng tiếng động của ôtô, xe máy, hàng quán… Giống như nắng trưa hè được lọc qua một lớp kính mát.
Ta không tránh – mà cũng khó tránh – những nơi có nhiều tiếng động ồn ào của cuộc sống đô thị. Nhưng có động phải có tĩnh. Tĩnh để bồi dưỡng tinh thần thì mới tăng cường sức khỏe thể chất. Có hòn đảo yên tĩnh ngay giữa hồ thì quý thật!
Đền Ngọc Sơn là một danh lam xây dựng trong thắng cảnh. Ông cha ta bao giờ cũng chọn những nơi thắng cảnh để xây dựng danh lam. Có như vậy mới tạo được sự hài hòa giữa công trình kiến trúc với bối cảnh thiên nhiên. Đảo Ngọc vừa là một bộ phận quan trọng của thắng cảnh vừa là di tích lịch sử. Các vua thời Lê, những lúc rảnh rỗi, thường ra đây nghỉ ngơi và câu cá. Vì thế nơi đây đã từng mang tên Điếu Đài (Đài câu cá). Trên nền cũ của Điếu Đài người ta xây dựng một ngôi chùa. Về sau, chùa được đổi thành đền. Một trong những người có công mở kiến thiết khu đền Ngọc Sơn là Nguyễn Siêu (1799-1872), người làng Lủ (Kim Lũ), xã Đại Kim, huyện Thanh Trì. Ông là một nhà thơ nổi tiếng với biệt danh “thần Siêu” song song với “thánh Quát”, tức Cao Bá Quát. Với tầm nhìn tầm nghĩ cao sâu, Nguyễn Siêu đã tạo nên ở đây một quần thể kiến trúc mang ý nghĩa biểu tượng cho nền văn hiến lâu đời của thủ đô và toàn thể đất nước.
Những áng thơ văn để vịnh danh lam thắng cảnh nơi đây hiện còn ghi ở đền Ngọc Sơn có nhiều tác phẩm của danh sĩ Nguyễn Siêu. Tất cả đều âm vang ngôn ngữ của nền văn hiến cổ truyền. Ngay ở cổng đền, trên hai trụ cột có hai vế câu đối gợi mở cảm hứng khi ta mới bước vào thắng cảnh. Xin tạm dịch:
Đến ngắm nước, trèo lên non, một lối vào dần cảnh đẹp.
Tìm nguồn xưa, hỏi việc cũ, trong này vô hạn phong quang.
(Lâm thủy đăng sơn, nhất lộ tiệm nhập giai cảnh
Tầm nguyên phỏng cổ, thủ trung vô hạn phong quang).
Vừa qua cổng đã thấy vút lên trước mắt ta ngọn Tháp Bút trở thẳng lên trời. Trên thân tháp, đỏ thắm ba chữ “Tả thiên thanh” (viết lên trời xanh) bao hàm ý tứ mênh mông. Chỉ ba chữ thôi mà thâu tóm cả một bài thơ lớn. “Cửa rồng” (Long môn) và “Bảng hổ” (Hổ bảng) ở hai bên lối đi biểu dương việc thi cử đỗ đạt ngày xưa. Nay nhìn những hình ảnh bay bổng, khỏe khoắn ấy vẫn tốt với tâm trí ta.
Chỉ qua một quãng ngắn là đến cổng Đài Nghiên, ở sát đầu ngoài cầu. Cổng này là cái “đai” của nghiên mực tượng trưng. Tháp Bút, Đài Nghiên là biểu tượng của sự học tập, cũng là biểu tượng của văn học. Một trong hai vế câu đối ở chỗ Cửa rồng, Bảng hổ cũng đã nêu:
Đài Nghiên, Tháp Bút: khối lớn văn chương
(Nghiên Đài, Bút Tháp: đại khối văn chương)
Cổng – Đài – Nghiên có những câu hay:
Đây hồ ngấn mực tràn quanh đảo
Ngất non thế bút chạm bầu trời.
(Bát đảo mặc ngân hà thủy mãn
Kinh thiên bút thế thạch phong cao).
Thế là trong việc xây dựng công trình, nhà danh sĩ làm đồ án thiết kế đã có dụng ý tập trung những hình tượng, những câu chữ đề cao văn hiến, để ngay từ đầu, gây ấn tượng “sùng văn” cho khách hành hương, khách du ngoạn.
Cầu Thê Húc dẫn tới lầu “Được trăng” (Đảo Nguyệt lâu). Đứng trên lầu ấy mà nhìn xuống hồ khi trăng mới mọc thì cũng như bắt “được trăng” trước người khác. Có người cho rằng “Đắc nguyệt” phải sửa là “Đãi nguyệt” (Đợi trăng). Thiết nghĩ ở đây “Đắc nguyệt” là hợp tình hợp lý rồi còn phải “Đãi” (đợi) làm gì nữa! Ở những lầu cao của nhiều đền miếu, ta cũng thường thấy chữ “Tiến đắc nguyệt”(Được trăng trước tiên).
Đôi câu đối phía dưới lầu “Đắc nguyệt” có hình ảnh hồn nhiên mà kỳ ảo:
Cầu gỗ dẫn cầu vồng đậu trên bờ đảo.
Lầu cao mang trăng sáng ngồi giữa lòng hồ.
(Kiều dẫn trương hồng thê đảo ngạn
Lâu đương minh nguyệt tọa hồ tâm).
Phía trong lầu “Đắc nguyệt” có đôi câu còn lộ nét đẽo gọt nhưng tả cái đẹp rất mông lung:
Hang nguyệt, rẽ trời, nơi ung dung qua lại
Ánh non, sắc nước thường cùng ta đón đưa.
(Thiên căn, nguyệt quật nhan lai vãng
Thủy sắc, sơn quang tương tống nghênh).
Về việc thờ tự ở đền Ngọc Sơn, cũng có cái cốt lõi đáng trân trọng. Trong các vị thần thánh được tôn thờ ở đây có Trần Hưng Đạo. Đó là tỏ ý ngợi ca chiến công của vị anh hùng có sự nghiệp lớn lao.
Dân ta vốn chuộng cả võ lẫn văn nên vào khoảng giữa thế kỷ 19 lại đưa vào Ngọc Sơn một ông thần văn học gọi là Văn Xương Đế Quân. Người xưa cho rằng có những ngôi sao chủ trì việc văn học. Văn Xương là một ngôi sao có nhiệm vụ ấy. Pho tượng Văn Xương phúc hậu ngồi trong đền quay ra mặt hồ, mặc áo xanh sáng làm cho người ta nghĩ đến ánh sáng xanh của một ngôi sao. Hai bên ông ấy lại có ông Khôi, ông Việt tay cầm giấy bút. Khôi, Việt đều là những ngôi sao Văn. Chỗ thơ các Văn tinh có câu đối:
Trời sáng, sao bừng, nghiên bút ánh văn lưu dấu đẹp.
Loan bay, hạc đậu, núi hồ đất vượng nức hồn thiêng.
(Nhật lãng, tinh huy, bút nghiên văn chương lưu thẳng tích
Loan phi, hạc giáng, hồ sơn địa tú uất linh thanh).
Phía đền trông ra đỉnh Trấn Ba có đôi câu khái quát ý nghĩa biểu tượng của đền đài, cảnh trí nơi đây.
Đường lớn có chủ trương, hình tượng văn minh sao Bắc Đẩu
Khắp nơi đều ngưỡng mộ, kinh đô lễ nhạc cõi Nam Bang.
(Đạo hữu chủ trương. Đẩu Bắc văn minh chí tượng
Nhân đồng chiêm ngưỡng. Giao Nam lễ nhạc chi đô).
“Kinh đô lễ nhạc cõi Nam Bang” nếu diễn đạt theo ngôn ngữ hiện đại thì có nghĩa là “Thăng Long xưa Hà Nội nay là thủ đô văn hiến của nước Việt Nam”. Đó là lời nhắn nhủ tâm huyết của tiền nhân gửi lại cho chúng ta ngày nay và con cháu ngày sau.
Hồng Anh
|