|
Ở Việt Nam, “Nguyên đán” là ngày mồng một tháng giêng âm lịch, còn ở Trung Quốc là ngày mồng một tháng giêng dương lịch. Chữ “nguyên” nghĩa là bắt đầu, tức là thứ nhất, còn chữ “đán” nghĩa là một ngày hoặc buổi sáng. Hai chữ này được ghép lại với nhau thì dùng để chỉ ngày đầu tiên trong một năm.
Ở Trung Quốc, theo truyền thuyết thì cái tên gọi “nguyên đán” có nguồn gốc từ một vị hoàng đế trong Tam hoàng Ngũ đế có tên thật là Chuyên Húc. Chuyên Húc lấy tháng Giêng nông lịch là nguyên và ngày mồng một là đán.
Về sau, có những triều đại lại thay đổi nhật kỳ của ngày nguyên đán. Chẳng hạn nhà Hạ lấy ngày mồng một tháng mười hai là nguyên đán, nhà Thương lấy ngày mồng một tháng mười hai là ngày nguyên đán.
Nhà Chu lấy ngày mồng một tháng mười một làm nguyên đán, nhưng đến đời Hán Vũ Đế lại quy định lấy ngày mồng một tháng Giêng là nguyên đán không còn thay đổi nữa.
Từ sau cách mạng Tân Hợi, người Trung Quốc chuyển sang dùng Công lịch và ngày nguyên đán âm lịch được đổi tên là Xuân tiết (ngày tết xuân), còn ngày mồng một tháng Giêng của lịch mới thì được gọi là Tân niên (ngày năm mới).
Năm 1949, Hội nghị toàn thể khóa I Hội nghị nhân dân chính trị hiệp thương Trung Quốc đã thông qua việc sử dụng “cách ghi năm theo Công nguyên” và chính thức quy định ngày mồng một tháng giêng công lịch là nguyên đán.
Ngày nay, nhiều quốc gia áp dụng Công lịch đều lấy ngày mồng một tháng giêng làm ngày nguyên đán, nhưng vẫn còn một số quốc gia và dân tộc, do phương pháp làm lịch dựa theo những tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, khí hậu các mùa… không đồng nhất, cho nên nhật kỳ ngày nguyên đán của mỗi năm được định ra không như nhau. Thí dụ Ai Cập lấy ngày nước sông Nin bắt đầu dâng lên làm ngày nguyên đán.
Hồng An (Theo Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông-Tây)
|