TẠP BÚT:

Bữa cơm mùa lũ

Thứ Sáu, 22/09/2017, 10:21 [GMT+7]
In bài này
.
Minh họa của: NGHĨA QUÝ.
Minh họa của: NGHĨA QUÝ.

Mùa lũ khiến mọi thứ ở quê tôi trở nên đảo lộn. Nước lũ chia cắt mọi thứ. Ngoài nỗi lo chạy lũ, người lớn còn lo chạy vạy từng bữa cơm sao cho ấm bụng cả gia đình. Bữa cơm mùa lũ vì thế để lại nhiều dấu ấn đậm sâu hơn với những ai đi ra từ khúc ruột miền Trung chang chang nắng gió và đầy ắp bão lụt.   

Cái nguy nan mà những cơn lũ ập đến khó có thể kể hết, nhưng ai cũng sợ nước lũ dâng lên lúc nửa đêm, lắm lúc nước chạm cả vào lưng, người đang say ngủ mới giật mình tỉnh giấc. Khi ai nấy hoảng hốt bật dậy thì nhà cửa, lúa gạo, bếp núc đã bị nhấn chìm. Cám cảnh nhất ngày lũ là chuyện bếp núc. Người dân vùng lũ sẽ phải vớt những que củi lên gác cho ráo nước rồi tìm cách nhen lửa giữa ướt nhèm, sũng sượt. Những mái nhà lụt lút còn mỗi cái nóc, “bữa cơm” khi ấy nếu có đi nữa chỉ là những gói mì, vừa ăn vừa run rẩy. Ấy thế mà người miền Trung chưa bao giờ phải nao núng vì những “bữa cơm” ăn liền như thế trong mùa mưa lũ.

Khi nước bắt đầu rút, củi đã ráo, hàng xóm đã nghe tiếng ới của nhau cũng là lúc bếp lửa trên gác từng nhà bắt đầu được nhen nhóm. Dù khó khăn đến mấy, nhưng nhà nào cũng cố làm cái gác để trú lũ. Gác là những tấm gỗ dày bản ghép lại với nhau trên trần nhà. Để lửa bếp không làm gác nhà cháy sém, người dân thường lót tấm sắt dày phía dưới kiềng bếp, rồi trong lúc đun nấu cũng phải cẩn thận tránh để than củi vương vãi ra ngoài. Lúc nước rút xuống nền nhà thì bếp lửa cũng “rút” xuống giường, xuống phản gỗ theo con nước. Củi lửa ngày mưa lũ lập lòe, không đượm nồng như ngày thường. Cũng vậy, cơm quê ngày lũ chỉ được mỗi cơm trắng là món chính, còn thức ăn, nhà nào có muối mắm, muối cà dự trữ thì còn được mặn miệng không thì vài hạt muối đậu qua quýt cho xong bữa. 

Bữa cơm ngày lũ trong khi người lớn ăn vội ăn vàng để còn dành tâm trí theo dõi mực nước xuống lên thì đám trẻ con luôn cho phép mình rôm rả. Không rôm rả sao được, bởi với chúng có nước lụt là như có “hội”, vì được chống bè đến chỗ nọ chỗ kia; được ướt át bao nhiêu tùy thích mà không lo bị người lớn la rầy. Câu chuyện rộn ràng nhất của lũ trẻ vẫn là chủ đề “lụt lút cả làng”, khi chúng được thoải mái so đo cao độ mực nước của bất cứ thứ gì chúng nhìn thấy. Bởi thế, bữa cơm mùa lũ với trẻ con bao giờ cũng đong đầy kỷ niệm. Từ quê đi ra, những đứa trẻ ngày ấy lớn lên vẫn không ngừng tự vấn, tại sao chống bè, lội lụt lưới cá về lại có cảm giác đói cơm đến thế?  

Bữa cơm ngày lũ còn chứng kiến những tấm lòng quảng đại: “Thương người như thể thương thân”. Hàng xóm láng giềng chia cho nhau từng chén gạo, miếng cơm khi nhà bên cạnh xay xát chưa kịp hay thóc, gạo không may bị ướt. Những nhà ở chỗ trũng bị ngập sâu xin đến nhà cao ráo, ít ngập ở nhờ luôn được sẵn sàng chào đón. Bữa cơm thêm chén, thêm đũa, hao hụt đi chút ít nhưng tình người trong lũ lụt là thứ tài sản quý giá không thể đong đo. Bữa cơm mùa lũ còn ấm nồng mùi vị của sự quên mình, của tình yêu và sự sẻ chia đến từ các lực lượng cứu hộ, cứu nạn và cả những tập thể, cá nhân luôn hết lòng vì đồng loại, đã vượt qua biển nước lênh láng để mang thức ăn, thức uống đến từng nhà, từng người.  

Bữa cơm mùa lũ không chỉ cho người dân năng lượng để chống chọi với thiên tai mà còn là mực thước của bài học: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”; hay: “Lá lành đùm lá rách” mà người xưa đã dạy.

NGUYỄN TIẾN DŨNG

;
.