Tản mạn về thú chơi câu đối

Thứ Sáu, 23/12/2016, 10:24 [GMT+7]
In bài này
.
Các ông đồ “cho chữ” tại ngày hội Phố ông đồ do Nhà Văn hóa Thanh niên tỉnh tổ chức tại KDL Hồ Mây, TP.Vũng Tàu.
Các ông đồ “cho chữ” tại ngày hội Phố ông đồ do Nhà Văn hóa Thanh niên tỉnh tổ chức tại KDL Hồ Mây, TP.Vũng Tàu.

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. Chẳng ai biết, đôi câu đối trên có từ bao giờ, nhưng nhiều người Việt Nam thuộc nằm lòng, nhất là khi Tết đến, xuân về.

Cặp câu đối lựa chọn những yếu tố tạo nên sắc màu Tết đặc trưng của người Việt, đó là những yếu tố vật chất: “thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh” đi kèm những yếu tố tinh thần: “cây nêu, tràng pháo...”. Đặc biệt, hình ảnh “câu đối đỏ” đề cập đến thú chơi câu đối ngày xuân của người Việt Nam, qua đó phản ánh truyền thống trọng văn và lòng biết ơn của con cháu với tiên tổ và những khát vọng cho một khởi đầu tốt đẹp ở thời điểm thiêng liêng nhất của một năm - Tết cổ truyền.

Ông bà ta ngày xưa có tục treo câu đối vào sáng mùng 1 Tết Nguyên đán, trước khi làm lễ tạ ơn gia tiên, cầu cho năm mới an khang, thịnh vượng. Câu đối thường được viết trên giấy màu đỏ hay hồng đào - màu tượng trưng cho sự đầm ấm, hạnh phúc; được viết bằng chữ Nôm, chữ Hán hoặc chữ quốc ngữ. Cặp câu đối làm sống dậy một không gian hướng về nhân sinh, hướng về cõi tâm linh với trời cao và tiên tổ. Ý thức, khát vọng đón cái mới, cái đẹp đẽ tốt tươi, song hành với ngăn chặn diệt trừ cái xấu, cái ác. Nó cũng đồng thời mang đậm dấu ấn của cộng đồng cư dân làm nghề lúa nước theo lịch âm với văn hóa ẩm thực là sản phẩm nuôi trồng và thú chơi trí tuệ tao nhã của một thời “mực Tàu giấy đỏ” cùng tín ngưỡng dân gian đậm sắc màu truyền thuyết.

Nửa cuối thế kỷ XIX, đoạn ngã tư Hàng Bồ - Hàng Thiếc, trước đây là Hàng Bút (Hà Nội) chuyên bán giấy của Kẻ Bưởi, nghiên mực làm bằng đá của vùng đá vôi Hà Nam và mực làm ở Hưng Yên cùng các loại giấy và mực nhập từ Trung Hoa. Cạnh các cửa hàng này, các ông đồ thường trải chiếu và bán câu đối, hay chữ viết sẵn. Ai không thích thì đọc chữ hoặc trình bày mong muốn để ông đồ tìm chữ hợp với bản thân và gia cảnh. Câu đối và chữ viết trên giấy hồng điều. Khi các gia đình dựng cây nêu đón Tết, họ cũng không quên mua dăm trái cau, gói trà mang tới biếu cụ Nghè, cụ Cử và người hay chữ, để xin câu đối.

Câu đối thường không quy định số lượng chữ, dài ngắn đều được, nhưng luôn phải tuân theo một số “luật” như đối phải chỉnh, phải đúng lối bằng, trắc và các lối đối như câu tiểu đối (bốn chữ), câu đối thơ (năm chữ hoặc bảy chữ), câu song quan, gồm hai câu đối nhau, mỗi câu là một đoạn văn liền, từ năm chữ đến chín chữ. Câu đối Tết có nhiều loại: Câu đối Tết dùng chung cho mọi nhà; câu đối Tết treo ở các đình làng, công sở; câu đối Tết treo ở đền, chùa, miếu mạo; câu đối Tết dùng tùy thuộc vào từng gia cảnh vui, buồn...

Năm mới, ai cũng thêm một tuổi, trưởng thành hơn. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian để mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm cũ và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối: Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ/Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường (Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ/Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà).

Phúc là điều tốt lành được dân gian quan niệm là trên hết. Triết lý phương Đông quan niệm, có phúc thì sẽ có con cháu đầy đàn, giúp ích cho việc tăng gia sản xuất, nối dõi tông đường. Vì vậy, trong tam tinh (Phúc, Lộc, Thọ) thì Phúc đứng đầu. Trong các mùa của năm, mùa xuân là mùa khởi đầu vì mùa này giúp cho cây trái tươi tốt, đem đến bao ước vọng an lành, vì lý do đó, chúc xuân là phải chúc phúc: Tứ thời xuân tại thủ/Ngũ phúc thọ vi tiên (Bốn mùa xuân trên hết/Năm phúc thọ đầu tiên)

Với bà con người Việt ở nước ngoài, Khi Tết đến, xuân về cũng là lúc lòng da diết nhớ quê hương với tâm tư của người xa xứ: Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc/Lung linh ánh lửa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn.

Ngày nay, giữa cuộc sống hiện đại, người ta vẫn bắt gặp hình ảnh của Tết Việt xưa thông qua một số lễ hội văn hóa đặc sắc trong mỗi dịp Xuân về. Một trong những nét xưa đó được khắc họa khá sinh động thông qua “phố ông đồ” tại những con đường thuộc Cung văn hóa Lao Động hoặc xung quanh khuôn viên Nhà văn hóa Thanh Niên TP. Hồ Chí Minh. Tại TP. Vũng Tàu, các “phố ông đồ” cũng được tái hiện ở KDL Hồ Mây hay khuôn viên Hội hoa Xuân, Nhà Lớn Long Sơn vào những ngày Xuân. Điểm khác biệt là những “ông đồ” của thời hiện đại không chỉ là những cụ già, mà còn có cả những bạn trẻ của các trường mỹ thuật mê “vẽ chữ”. Họ đến để viết thư pháp, viết câu đối, còn người đi xin chữ cũng đa phần là các bạn trẻ, muốn vương vấn chút gì đó của không khí Tết xưa, với những câu đối cũng phù hợp với nhịp sống hiện đại.

Gìn giữ những nét văn hóa cổ truyền dân tộc cũng là gìn giữ hồn cốt của nước Việt giàu bản sắc, tinh hoa mà cha ông đã vun đắp qua bao đời nay.

NGUYỆT CHI

;
.