Bài ca ở thị trấn Đồi

Thứ Sáu, 02/08/2013, 02:52 [GMT+7]
In bài này
.

Đáng lẽ, tôi dấn thêm một bước.

Thì, ông sẽ lùi một bước.

Đứng bóng. Mặt trời miền nhiệt đới cuối thu như cái rọ không đáy, chênh vênh nằm gối trên những đám mây trắng từng khối, từng khối. Trắng, nhưng không tan vào nhau thành một nền phẳng, mà cắt lớp chia tầng.

VTCN 29.zip
Minh họa của MINH SƠN

Đáng lẽ, tôi hít sâu, tập trung sức mạnh xuống bộ tấn.

Thì, ông sẽ khoan thai quay lưng đi. Như gió.

Thế nhưng chuyện đời không xảy ra như vậy. Mọi suy đoán, toan tính, chuẩn bị đã bốc hơi dưới ánh mặt trời. Ông cứ đứng và tôi cứ đứng. Phăng phắc. Tôi có thể nghe mồ hôi đang rịn ra trên trán, trên má rồi lăn thành từng giọt theo thớ thịt.

Cuộc chiến không phân thắng bại. Dường như thắng bại đã chia đều cho cả hai. Nhưng đấu sĩ chẳng còn đường thối lui. Cứ đăm đăm soi mắt mình vào đối thủ. Tôi nhìn thấy ông và chắc ông nhìn thấy tôi, trong mắt của nhau.

*

*      *

Cho đến khi nắng xế nghiêng đồi Tây, con bìm bịp đi kiếm ăn về đứng trên ngọn cây sầu đâu, cánh vỗ phành phạch, ưỡn cổ cất tiếng hót. Ông Ngừ mỉm cười. Phơn phớt dưới ánh vàng chiều. Tôi duỗi hai tay, lắc hông nửa vòng từ trái qua phải kêu răng rắc, lại thêm nửa vòng ngược lại.

Chúng tôi về. Con bìm bịp đã quen hơi người, bay tíu tít phía trước. Có khi nó sà xuống đậu một bên vai ông. Tôi vác bó củi khô. Xoay phía nào cũng thấy núi.

Ở túp chòi, khói đã vờn trên mái tranh. Thu chạy từ trong bếp ra, mắt sáng như ban mai. Cô đỡ bó củi xuống. Miệng lẩm nhẩm theo một giai điệu quen thuộc.

Cả ngày có gì lạ không Thu? - Tôi hỏi. Một câu hỏi thân hơn cả khuôn mặt mình.

Lắc đầu. Thu chỉ biết lắc đầu. Từ thảm nạn năm mười ba tuổi, cô chưa nói thêm một tiếng nào.

Trên bộ ván kê trước tấm vách nứa, ông Ngừ đã ngồi khoanh chân, loay hoay châm ấm trà mới. Thứ trà không tẩm không ướp, có thêm củ tranh, mấy loại lá và vỏ cây rừng, chan chát, đằm đằm, sâu sâu. Ông lại lôi cái ống điếu bằng thanh tre dài gần nửa thước ra, tiêm thuốc lào, rít sòng sọc một hơi dài, ém lâu lâu trong ngực rồi mới ngẩng mặt thả từng đợt khói. Mùi đất ẩm, lá khô, khói bếp, nước trà và thuốc lào làm cho buổi chiều đặc quánh. Tôi ngồi lên bộ ván, phủi chân nhè nhẹ. Thứ đất đỏ hồng mịn như son, vẽ lên da những vệt quầng đậm nhạt như rồng như rắn.

Chừng nào cậu về dưới? - Ông Ngừ lên tiếng. Khàn khàn. Cả tháng nay, hầu như ngày nào ông cũng hỏi câu này. 

Quan trọng gì đâu! Bao giờ đi thì phải đi thôi - Tôi nói.

Thu bê soong cơm ra. Cái nồi nhôm đóng muội đen kịt dầy khắp vòng ngoài. Ông Ngừ mở nắp vung. Cơm gạo lức đo đỏ nghi ngút khói. Bên trong, một chén cá khô hấp.

Lấy thêm măng ra ăn, con. Bữa rày chắc đã chua lắm rồi. Cha con lão thì đã quen mắm muối đơn sơ rồi, còn cậu không ngán sao? - Ông Ngừ nói.

Tôi lua nhanh một đũa cơm lớn vào miệng, nhồm nhoàm thay cho câu trả lời. Thu chưa cầm chén, tay bận gắp măng ra cái rổ tre nhỏ, nhìn tôi cười.

Bữa nay bao nhiêu mà trăng lên sớm vậy ta?

Chắc mười hai mười ba. Dưới Cảng, nước đang lớn hả? Ngày xưa, nước lớn nước ròng gì đều có trong máu lão. Riết rồi quên hết.

Lão sắp xếp về dưới một lần chớ?

Ông Ngừ buông đũa. Tiếng thở dài thay món tráng miệng. Thu gom mấy cái chén bỏ luôn vào nồi, bưng ra phía suối. Chập choạng. Dáng Thu dịu dàng như bóng tối đang kẽo kẹt gặm bốn phía rừng. Khoanh váy nâu bó chật phần dưới người thiếu nữ, ngả màu, loang loáng yểu điệu theo ráng chiều hăn hắt.

Quay qua quay lại, thoáng cái, con Thu cũng hai mươi rồi. Ông Ngừ với ống cày. Mắt nhay nháy nhìn theo.

Lão tu thì tu mình lão, không lẽ bắt cô Thu tu theo? - Tôi đánh tiếng.

Tu được là phúc. Chỉ sợ phần số chưa tới. Thấy nó mây mẩy như dây bí rợ tưng tức từng ngày, lão cũng xót mà đành chịu. Không một chữ nghĩa giắt lưng, câm câm nín nín từng ấy năm, làm sao mà chịu nổi với người ta?

Từ mai, tôi kèm cô Thu học chữ. Tôi quả quyết như đinh đóng cột. Không đợi ông đồng ý, tôi đứng dậy rải bước theo hướng thác Mơ.

O tròn như quả trứng gà. U là mẹ đẻ, Ê là tái tê hả? - Ông Ngừ ngâm ngợi vòng vọng. Âm thanh nao não như ca cổ và mùi thuốc lào găn gắt đuổi theo tôi tận bìa rừng. Cho tới khi tiếng nước sàn sạt văn vắt nuốt chửng mọi thanh âm khác. Con suối Lồ từ phía bên kia núi Ngộ, vắt qua đồi Tây rồi về xuôi. Ở đoạn trên, người Châu Ro chặn dòng để tưới rẫy, nước quần quật giận dữ xoáy thành hố sâu, lúc nào cũng cuộn bọt bạc phếch trên đỉnh dốc nên gọi là hồ Bạc, tuôn thành con thác nhưng nhức suốt mùa mưa. Cha con ông sở hữu tuyệt đối con thác này, đặt tên là thác Mơ. Cả một vùng đồi núi thưa tiếng người.

Tôi lạc tới đây rằm tháng trước. Đi tìm thằng em họ. Nó bỏ biển sau cơn bão số 5. Trôi dạt biệt xứ. Nghe người ta nói thấy nó miệt này. Lơ ngơ ở thị trấn Đồi, may mà tôi gặp ông Ngừ thồ khoai xuống chợ đổi gạo. Lạ lạ quen quen lại nhận ra nhau. Nhà cậu ở Cảng phải không? Còn lão, là lão Ngừ bỏ chài bỏ lưới đi mất dạng sau khi đứa con gái bị hại!

Ừ, da đen tóc cháy do nắng biển hay nắng rừng cũng khác gì nhau đâu. Cái duyên cái số khó mà chối. Tôi theo chân ông Ngừ về đây. Tin từ làng Châu Ro thượng nguồn, rằng thằng em họ có ghé qua năm trước, sau mấy tháng tắm táp vẫy vùng đã đời dưới hồ Bạc, lấy một thiếu nữ Châu Ro rồi hai vợ chồng dắt díu nhau đi đâu không rõ.

*

*      *

Trăng chếch phía đông. Những tảng đá, bụi cây thỏa sức khoe hình hài quái dị dưới rờ rỡ ánh vàng. Tôi đứng như trời trồng sau bụi tre gai kế bên suối. Thu đang khỏa nước. Tóc nâu ướt rười rượi bết xuống vai, xuống ngực. Con suối rùng rình ngang eo. Tiếng cô ư ử ừ ư thênh thang. Mọi bữa, cô rửa ráy chén bát, gánh 2 thùng nước về ngay chứ đâu hừng hực vội vàng như hôm nay. Tôi toan quay lưng nhưng nhánh tre gai mắc vào áo, đâm xước da đau điếng.

Anh Hải ơi! Nước mát quá.

Thằng thanh niên ba mươi tuổi quen ăn đằng sóng nói đằng gió cứ để nguyên quần áo chầm chậm nhúng chân xuống suối. Như kẻ mộng du. Như bị thôi miên. Cô Thu gọi tôi hả? Nước lành lạnh thấm vào mọi giác quan, sau phút nổi da gà thì tâm trí tưởng chừng bị niêm phong bỗng xới tung lên. Cô Thu nói được hả? Trời ơi. Cô Thu nói được rồi. Tôi hét lên trong tiếng gầm gừ của con thác.

Tôi vẫn nói ấy chớ. Chỉ tại không ai nghe.

Lửa tình cũng như con nước. Cứ cháy lên cháy lên và chảy xuống cho đến khi nào cạn kiệt mới thôi. Tôi vật lộn với con thác, cơ thể càng gồng lên thì càng nhẹ tênh, cho tới lúc buông xuôi tất cả. Khuôn mặt ông Ngừ nhăn nhúm ẩn hiện theo một phiến lá vàng thả trôi trên suối. Bập bềnh bập bềnh chao đảo rồi chìm lỉm mất hút. Trên phiến đá xám đen bằng phẳng nước tràn mặt giữa dòng, Thu như con mèo rừng mùa sục sôi động dục. Như con cá chình hoa giãy dụa cong mình siết bạn tình.  Căng cứng. Ngây dại. Sóng, sóng, sóng. Lâu rồi, em quên mất sóng là gì. Thủy triều là gì. Biển là gì.

Đàn ông là sóng. Đàn ông là thủy triều. Đàn ông là biển.

Vậy, đàn bà là phao à? Không. Là trăng nhé? Thu nấc ngọt. Đôi bàn tay thon nhỏ mà chằn chặt mạnh mẽ kỳ cọ khắp người tôi.

Trăng còn trinh? Tôi hổn hển ngu si, bật ra lưỡi dao cứa vào vết thương năm mười ba tuổi của Thu. Nhưng Thu không đếm xỉa đến nỗi đau cũ. Một áng mây đen vừa lấy đi ánh sáng vàng óng dịu dàng, trời tối hẳn. Thu vùi mặt trên ngực tôi. Trăng khuyết rồi lại tròn. Tròn rồi lại khuyết. Trăng còn trinh không, ai mà biết…

Nửa đêm, tôi len lén vào nằm kế bên ông Ngừ. Cái radio cũ mốc rèng rẹc đang phát chương trình kể chuyện đêm khuya. Giọng cô phát thanh viên ấm áp, đều đặn đọc chương cuối cùng cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Chúng ta đều là biển. Ông Ngừ chưa ngủ, đằng hắng về phía bếp. Con Thu không ngủ đi, mà nấu nước sôi rưng rức sớm vậy?

*

*      *

Đáng lẽ, tôi dấn thêm một bước.

Thì, ông sẽ lùi một bước.

Đáng lẽ, tôi hít sâu, tập trung sức mạnh xuống bộ tấn.

Thì, ông sẽ khoan thai quay lưng đi. Như gió.

Tối, tôi kèm Thu đánh vần. Ngày, tôi theo ông Ngừ phát rẫy. Dưới biển thì bơi lội vẫy vùng, lên rừng chỉ có vài thế vật làm trò giải trí. Bất chợt, ông Ngừ hỏi: Cậu có biết cái truyện Chúng ta đều là biển của ai không?

Chắc là của một nhà văn thuyền chài. Việt Nam trải dài theo biển. Chỉ có ngư dân nòi mới viết về biển hay như thế.

Sai rồi. Của một người Châu Ro chưa bao giờ đến biển.

Tôi không tin, nhưng Thu xen vào: Thật vậy đó! Sau đêm ấy, Thu không còn giấu tiếng nói của mình nữa. Của ông Kang Lì trên bản. Cha kể chuyện đánh cá, dạy chữ cho ổng. Ổng dạy cha võ gia truyền và nghề rừng rẫy. Năm ngoái, Kang Lì chết. Gia tài để lại chỉ có câu chuyện chép tay đó. Mấy nhà báo lên đây công tác, lấy đem về xuôi.

Không thể tin được! Tôi ngồi phịch xuống nền đất. Chống hai tay ngã ngửa ra phía sau rồi nằm duỗi thẳng người như cây đổ sau bão. Ông Ngừ cũng nghỉ tay, hớp một ngụm trà Thu vừa rót.

Đêm qua mới mưa nên đất mới thơm vậy. Sao, chừng nào cậu về dưới? Con Thu cũng phải về biển một lần, thăm quê cha đất mẹ cho đỡ nhớ.

*

*      *

Tìm không ra thằng em họ, lại lấy được vợ. Vợ xinh đẹp, duyên dáng  mặn mòi hẳn hoi. Bầu ba tháng. Đem về bái lạy ông bà tổ tiên rồi làm một bữa cơm ra mắt bà con xóm giềng, còn muốn gì hơn nữa?

Chiếc xe đò cũ kỹ từ thế kỷ trước ọc ạch rời thị trấn Đồi. Chật ních hành khách. Mùi mồ hôi và hơi người ngàn ngạt. Cũng may mấy ô cửa sổ không kính, gió thốc vào ràn rạt. Con đường đất đỏ mùa mưa ổ gà ổ voi chằng chịt cùng những vườn điều và cỏ dại lem xanh hai bên lùi dần. Thu tựa đầu vào vai tôi ngủ ngon lành, trong khi tay vẫn nắm chặt tay tôi ấp trên tấm bụng phập phồng mầm sống. Thỉnh thoảng, Thu nói mớ. Âm thanh ậm à như tiếng lá khô vỡ.

Qua bao nhiêu phố bao nhiêu đường rồi cũng về đến biển. Muối xộc lên. Cá xộc lên. Tới rồi hả anh?

Ừ, một đoạn nữa thôi. Nghe mùi quen không? Ở đây, khi không có mùi cá tanh nồng thế này là chết đói. Người ta nhớ biển phần nhiều là thế.

Thị trấn Cảng nhỏ như bàn tay, nhà san sát co cụm san sát, nhường chỗ cho những đống muối phủ rơm vàng cao ngất. Bến xe chung với bến ghe. Nước đang lên, vàng đục ngầu ngầu. Những bà những chị gánh cá từ ghe thuyền lên, kĩu kịt tiếng rao.

A, gã kia! Thu bấu lấy tay tôi. Run rẩy. Chính gã đó đã hại em ngày xưa.

Tôi phóng vụt theo gương mặt Thu chỉ. Một thân hình đen bóng, tóc xoăn vao váo, là kiểu mẫu đàn ông xứ biển. Khi tôi tưởng như đã bắt kịp, thì người quay lại không phải là tên yêu râu xanh hại đời Thu. Gã cứ lẩn khuất đâu đó, xa xa gần gần. Rồi mất dạng. Tôi hỏi. Chẳng ai biết, chẳng ai thấy. Sóng vỗ oàm oạp vào thuyền, vào bến không thôi. Đến lúc tôi quay lại chỗ xe đậu thì Thu đã không còn ở đó nữa. Chiếc xe cũng lăn bánh, quay ngược hành trình tự bao giờ.

*

*      *

Thác Mơ rền rĩ. Hồ Bạc cuồng nộ. Rừng nhang nhác vệt cây đổ. Một công trình thủy điện tầm cỡ đang tiến hành ở đây. Những chiếc lá chưa thoát kiếp, còn tươi đã phải lìa cuống, màu xanh úng úa lên men âm ỉ. Không hề có dấu tích gì của túp chòi tranh quen thuộc. Tôi hỏi thăm khắp thị trấn Đồi, chẳng ai biết về ông Ngừ và cô con gái tên Thu cả. Tôi lên bản Châu Ro, cũng chẳng có ai tên Kang Lì, là tác giả Chúng ta đều là biển.

Nhưng, làng trên xóm dưới đều thuộc bài hát truyền miệng:

Đáng lẽ, tôi dấn thêm một bước

Thì, ông sẽ lùi một bước

Đáng lẽ, tôi hít sâu, tập trung sức mạnh xuống bộ tấn

Thì, ông sẽ khoan thai quay lưng đi. Như gió…

Núi Dinh, tháng 7-2013

Truyện ngắn của TRỊNH SƠN

;
.