Nhập khẩu được không?

Thứ Sáu, 08/09/2017, 21:15 [GMT+7]
In bài này
.

Không ngờ dư luận lại phản ứng mạnh như thế trước thông tin Bộ GD-ĐT có thể xem xét việc “nhập khẩu” chương trình giáo dục (GD) và sách giáo khoa (SGK) của những nước tiên tiến ở Bắc Âu như Phần Lan.

Ngành GD đã từng thí điểm nhiều chương trình đổi mới. Từ hàng chục năm trước, mỗi khi bàn về những việc như cải cách GD, thay SGK, hay thay đổi cách thi THPT và tuyển sinh đại học, dư luận lại có luồng ý kiến nên nhập khẩu nền GD từ các nước tiên tiến -  như ngày trước Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã làm và những nước này đã phát triển nhảy vọt một phần nhờ có nguồn nhân lực được đào tạo bằng nền GD nhập từ các nước Âu - Mỹ. Vậy mà nay nghe tin Việt Nam có thể nghiên cứu nhập chương trình và SGK của Phần Lan, lập tức dư luận lại nổi lên dòng ý kiến chính là phản đối. Cũng có những người ủng hộ theo cách thận trọng “nhập khẩu có chọn lọc” các yếu tố phù hợp - tuy nhiên, những tiếng nói này là thiểu số và yếu ớt. Bởi thế, mới nói đây là chuyện “không ngờ”.

“Thành phần” phản đối khá rộng, gồm từ người đọc báo, phụ huynh học sinh, đến chuyên gia và những người trong ngành GD. Hầu hết không lạc quan vào kết quả và lo ngại vì điều kiện để thực hiện của nước ta so với điều kiện của nước xuất khẩu chương trình thì khác nhau quá xa.

Nghe sâu trong các ý kiến, sẽ thấy căn nguyên của thái độ phản đối là do họ cảm thấy mệt mỏi và mất lòng tin với ngành giáo dục. Vì sao? Vì nhiều năm nay, đã diễn ra không ít những cải cách dở dang, đầu voi đuôi chuột và thất bại của ngành GD. Như việc phân ban ở cấp THPT từ năm 2003, thí điểm một đằng, triển khai đại trà lại làm một nẻo do các nhà thiết kế chương trình không có tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và nhất quán, thiếu lập luận khoa học vững chắc, vừa làm vừa nghe ngóng như ông thợ trong câu chuyện ngụ ngôn ngồi “đẽo cày giữa đường”. Như đề án dạy ngoại ngữ trong nhà trường giai đoạn 2008 - 2020 cũng không đạt mục tiêu, do chủ quan đặt ra những mong muốn quá cao, không sát với thực tế dạy và học ngoại ngữ của cả nước, với trình độ của người dạy và khả năng tiếp thu của người học. Mới đây, sau khi ồ ạt mở đại trà ra các địa bàn 63 tỉnh, thành trong cả nước,  VNEN - mô hình trường học mới với hy vọng tạo ra cách dạy và học mới tiến bộ hơn, cũng đã “chết yểu”… Còn nhiều cải cách, thí điểm khác cũng đầu voi đuôi chuột, danh phận không thành, nhưng không được đánh giá, rút kinh nghiệm, khiến phụ huynh bất bình vì con cái họ bị đem làm “chuột bạch” hoài cho những thí nghiệm của “ông GD”.

Nhưng mặc dù phản đối nhập khẩu GD, những ai hiểu chuyện (thường là người trong ngành, các chuyên gia GD) cũng thừa nhận Phần Lan là nước có nền GD tiên tiến của thế giới, chương trình và SGK của họ nhất định cũng phải hay. Chỉ có điều, liệu chúng ta có “tiêu hóa” nổi những sản phẩm cao cấp ấy trong điều kiện cơ chế quản lý giáo dục nhiều bất cập, chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo của trường sư phạm và khả năng đứng lớp của nhiều giáo viên còn thấp, lương nhà giáo không đủ sống, sĩ số học sinh luôn quá tải... như hiện nay?

Ý nghĩa phản biện của những ý kiến nói trên là làm dư luận hiểu rằng nền GD nước ta có những bệnh tật cố hữu quá nặng, đến mức không đủ sức tiếp thu các “liều thuốc” cải cách.

Nhưng chẳng lẽ để con bệnh nằm chịu chết? Không, bệnh nặng càng phải chữa gấp; nhưng có phác đồ. Đề nghị ưu tiên trước mắt không phải là nhập khẩu GD, mà là ưu tiên giải quyết các điểm nghẽn trong phát triển, như đổi mới cơ chế quản lý GD, nâng chất lượng đội ngũ giáo viên, cải thiện thu nhập của nhà giáo, v.v… Việc nhập SGK để tham khảo, học hỏi là cần thiết, vẫn làm theo lộ trình; đến khi thấy “đỡ bệnh”, mới xem xét có thể dùng “thuốc cải cách liều cao” là nhập khẩu chương trình, SGK và đưa vào thực hiện trong nhà trường Việt Nam.

Có lẽ ở đây chứa đựng những yếu tố hợp lý.

HẢI THANH

;
.