Dừng bước VNEN

Thứ Ba, 05/09/2017, 21:31 [GMT+7]
In bài này
.

Tỉnh BR-VT quyết định ngừng thực hiện mô hình trường học mới (VNEN) ở bậc THCS kể từ năm học 2017-2018. 

Chiều 23-8-2017, đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì buổi làm việc với Sở GD-ĐT về mô hình VNEN và kế hoạch triển khai trong năm học 2017-2018. Cùng dự buổi làm việc có Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trình, và quyết định nói trên được đưa ra cuối buổi làm việc này.

Thật ra “số phận” của VNEN đã dự liệu được từ trước. Ở BR-VT, nó được thí điểm từ năm học 2012-2013 tại Châu Đức, sau mở ra các địa bàn khác; lúc cao điểm là năm học 2015-2016, cả tỉnh có 176 trường TH, THCS áp dụng VNEN. Nhưng theo Sở GD-ĐT, mặc dù VNEN có nhiều ưu điểm, việc áp dụng vào thực tế lại rất khó khăn, nhất là không được phụ huynh, học sinh, thậm chí cả nhà trường và giáo viên đồng thuận; đầu năm 2016-2017, số trường áp dụng VNEN “rụng” mất 29 trường so với năm 2015-2016. Sự phân hóa trong việc thực hiện VNEN là chủ đề thảo luận “nóng” tại phiên họp UBND tỉnh thường kỳ tháng 8-2016, và Chủ tịch UNND tỉnh đã yêu cầu Sở GD-ĐT có báo cáo làm rõ nguyên nhân. Cũng thời điểm ấy, những tỉnh như Hà Giang, Hà Tĩnh, Đắk Lắk đã cho dừng hoặc không mở rộng số lớp VNEN. 

Từ đó đến nay, một năm học đã qua, và năm học mới lại bắt đầu. Báo cáo giám sát của HĐND tỉnh cho biết, VNEN vẫn không tìm được thêm sự ủng hộ, mà tiếp tục tạo ra phân hóa mạnh mẽ. Ba địa phương là TP. Vũng Tàu, huyện Xuyên Mộc, huyện Đất Đỏ kiên quyết dừng thực hiện mô hình, còn các địa phương khác đề xuất chỉ áp dụng ở bậc TH với những trường có đủ điều kiện. 

Diễn biến thực tế như vậy đủ để nói rằng VNEN đã không thành công. Tại cuộc làm việc giữa lãnh đạo HĐND tỉnh với Sở GD-ĐT ngày 23-8-2017, đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh đồng ý với đề xuất của UBND tỉnh về ngừng VNEN ở bậc THCS, còn ở bậc TH, các trường, các địa phương nếu đủ điều kiện và được sự đồng thuận mới triển khai. Tại BR-VT, như thế là VNEN cũng đã dừng bước, hay đúng hơn, sẽ chỉ còn được dùng như “những thành tố tích cực” của một phương pháp giảng dạy.

Nguyên nhân thất bại, như Bộ trưởng GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ nói, là do ngành giáo dục “quá vội” triển khai mà “chưa chuẩn bị kỹ”. Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh BR-VT cũng nói xây cái nhà mà không chuẩn bị kỹ về cơ sở vật chất lẫn nhân lực thì làm sao thành công?

Phụ huynh có lý do khi VNEN không làm họ theo dõi được kết quả học tập của con; mô hình thích hợp cho học sinh khá giỏi chứ không tốt với học sinh đại trà, họ sợ con sau này không đủ kiến thức dự các kỳ thi lớn. Ngay cả giáo viên cũng hầu hết không cho con học VNEN. Tổ chức học theo kiểu mới, nhưng cách thi cử, đặc biệt là thi tuyển sinh đại học vẫn như cũ, thì phụ huynh khó mà tin cậy vào VNEN.

Nhiều giáo viên bị phê là không có động lực đổi mới để áp dụng VNEN. Điều đó đúng. Nhưng muốn đổi mới cách dạy, giáo viên cũng cần có thời gian; họ không thể một hai ngày là bỏ được thói quen đã có từ hàng chục năm trước; và nói chung, không thể làm “cuộc cách mạng trong nhà trường” với thời gian là vòng đời của một dự án được tài trợ làm thí điểm như VNEN. 

Cái “quá vội” và “chưa chuẩn bị kỹ” mà Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nói không phải là ở chỗ cơ sở trường lớp chưa phù hợp với mô hình VNEN, hay sĩ số học sinh quá đông… mà thực chất là ngành giáo dục không chuẩn bị được tư tưởng đổi mới, tâm thế sẵn sàng đón nhận cái mới cho phụ huynh, giáo viên, học sinh, và dài hơi hơn, là chưa có lộ trình, các bước đi đồng bộ cho một cuộc đổi mới. VNEN là phương pháp giáo dục có nhiều đổi mới căn bản so với mô hình truyền thống, nhưng lại thực hiện trong các điều kiện về nhà trường, về xã hội hoàn toàn cũ. Không có sự đổi mới nào thành công với tư tưởng cũ, cách làm cũ, với những con người chưa sẵn sàng để đón cái mới. 

Vì thế VNEN đã dừng bước.

HẢI THANH

;
.