Tăng cường đối thoại để giảm thiểu các vụ ngừng việc tập thể

Thứ Sáu, 25/08/2017, 22:42 [GMT+7]
In bài này
.

Ngừng việc tập thể với số lượng lớn người lao động (NLĐ) tham gia không còn là hiện tượng, mà đã trở thành một thực trạng đáng quan tâm ở nước ta hiện nay. Theo số liệu thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, từ năm 2010 đến nay, bình quân mỗi năm cả nước xảy ra 450 vụ đình công và ngừng việc tập thể. Số vụ tăng giảm tùy theo từng năm, nhưng tính chất và quy mô thì ngày càng diễn biến phức tạp.

Trên địa bàn tỉnh BR-VT trong 7 tháng đầu năm 2017 đã xảy ra 5 vụ ngừng việc tập thể, với sự tham gia của 2.088 NLĐ. Trong đó, đáng lưu ý là các vụ ngừng việc tập thể tại Công ty Mei Sheng Textiles Việt Nam (đóng ở huyện Châu Đức), Công ty Dong in Entech Việt Nam (huyện Đất Đỏ), Công ty Eclat Fabrics (huyện Tân Thành). Cùng với thời gian nêu trên, tại địa bàn TP.Hồ Chí Minh đã xảy ra 20 vụ ngừng việc tập thể, với sự tham gia của hàng chục ngàn  NLĐ.

Hầu hết các cuộc đình công, ngừng việc tập thể của NLĐ đều là tự phát, không có sự tham gia của tổ chức công đoàn và phần lớn xảy ra ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các vụ đình công, ngừng việc tập thể của NLĐ là do chủ các DN đã không thực hiện đúng các quy định pháp luật về tiền lương, tiền thưởng, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Trong đó, 80-90% liên quan đến chế độ tiền lương, như mức lương thấp, không được tăng lương theo cam kết, bị nợ lương, nợ tiền đóng các loại quỹ BHXH, BHYT, BHTN… Ngoài ra, chất lượng bữa ăn ca của NLĐ không bảo đảm, môi trường làm việc nóng bức; các dự án xây dựng công trình phúc lợi cho NLĐ ở các khu công nghiệp còn thiếu và chậm được triển khai. Đặc biệt, tại một số cơ sở sản xuất, gia công có vốn đầu tư nước ngoài, NLĐ bức xúc về thái độ ứng xử không đúng mực, thiếu thiện chí, thiếu tình người của chủ các doanh nghiệp. Một khi, người lao động không được đối thoại, không được nêu lên những bức xúc của mình với chủ doanh nghiệp, thì họ tự phát ngừng việc tập thể, coi như một “vũ khí” để lên tiếng với chủ doanh nghiệp.

Thực tế từ các vụ ngừng việc tập thể tự phát thời gian qua cho thấy, NLĐ chưa thực sự coi công đoàn là chỗ dựa, là nơi bảo vệ khi họ bị xâm hại quyền lợi. Bởi vì nhiều công đoàn cơ sở tại các DN có vốn đầu tư nước ngoài chưa thể hiện được chức năng của mình đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, còn cán bộ công đoàn thì bị phụ thuộc về việc làm, về thu nhập từ chủ sử dụng lao động, nên chưa mạnh dạn đấu tranh vì quyền lợi của NLĐ. Đa phần các vụ ngừng việc tập thể đều được giải quyết sau khi chủ doanh nghiệp thể hiện thiện chí, đối thoại, xem xét và thực hiện các yêu cầu đòi hỏi chính đáng của NLĐ, dưới sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý địa phương.

Ngừng việc tập thể không chỉ gây thiệt hại về lợi ích kinh tế cho DN, mà còn tác động xấu đến mối quan hệ lao động giữa chủ DN và NLĐ. Để giảm thiểu và hạn chế tình trạng đình công, ngừng việc tập thể tự phát, DN (nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) cần phải xây dựng được cơ chế đối thoại, trao đổi thông tin hai chiều một cách thường xuyên, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của tập thể NLĐ. Tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn cơ sở hoạt động, tăng cường hỗ trợ công đoàn trong việc thực hiện quy chế dân chủ, đối thoại theo Nghị định 60/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời, các DN cần chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý địa phương trong việc kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật lao động, Luật Công đoàn, Luật BHXH, Luật BHYT…, kịp thời giải quyết vướng mắc, khó khăn và góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa.

Tôn trọng và lắng nghe ý kiến công đoàn cơ sở, tăng cường thực hiện đối thoại sẽ giúp DN hiểu NLĐ hơn, từ đó có chính sách chăm lo cho NLĐ tốt hơn, cũng là cách giúp DN phát triển ổn định hơn.

ANH TUẤN

;
.