Kịch bản nào cho dân số Việt Nam?

Thứ Hai, 10/07/2017, 22:23 [GMT+7]
In bài này
.

Kỷ niệm ngày Dân số thế giới năm nay (11-7) nhân loại lại thêm một lần nữa giật mình về mức độ bùng nổ gia tăng dân số. Theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, dân số thế giới tính đến ngày 22-3-2017 là 7,49 tỷ người. Theo đà gia tăng đó, ước tính dân số thế giới sẽ đạt 8 tỷ người vào năm 2023 và sẽ đạt 10 tỷ người vào năm 2056.

Với tốc độ gia tăng cấp số nhân, sau gần 50 năm, nếu tính từ năm 1970 thì đến nay dân số thế giới đã tăng gấp 2,03 lần (từ 3,68 tỷ người lên 7,49 tỷ người). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vòng 10 năm qua của thế giới là 1,2%, của các nước phát triển chỉ ở mức 0,7%, trong khi đó các nước đang phát triển là 1,3%, các nước chậm phát triển là 2,2%, vùng châu Phi hạ Sahara còn lên tới 2,5%. Dân số tăng trưởng nhanh gây ra những áp lực lớn về các vấn đề xã hội. Sự bùng nổ dân số đã làm cho tốc độ tăng lao động lớn hơn tốc độ tăng trưởng việc làm, điều đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp trở nên khá phổ biến ở các nước đang phát triển. Do tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, ngoài việc phải vật lộn với mức thu nhập thấp, người dân ở các nước đang phát triển còn thường xuyên phải đối mặt với vấn nạn suy dinh dưỡng, bệnh tật và sức khỏe kém. Báo cáo phát triển con người mới đây cho thấy, tuổi thọ bình quân của thế giới đạt 69,3 tuổi, các nước phát triển đã lên tới con số 80, riêng Nhật Bản là nước có tuổi thọ bình quân cao nhất thế giới: 83,4 tuổi. Trong khi đó tuổi thọ bình quân của các nước đang phát triển nằm ở mức khoảng 60 tuổi; đáng lưu ý là tại 50 nước chậm phát triển, tuổi thọ trung bình chỉ đạt 57,7 tuổi. Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi trong số 1.000 trẻ em được sinh ra ở các nước chậm phát triển vào khoảng 118 so với 73 ở các nước đang phát triển và 12 ở các nước phát triển.

Hiện nay, gia tăng dân số  tại các quốc gia, nhất là tại các nước đang phát triển, đã và đang trở thành vấn đề mang tính cấp bách. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác dân số- KHHGĐ có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở thời điểm hiện tại, dân số nước ta đã đạt mức 95,145 triệu người, là nước đông dân thứ 14 của thế giới và đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (chỉ xếp sau Indonesia và Philippines). Các chuyên gia Văn phòng đại diện UNFPA (Quỹ dân số Liên hợp quốc) tại Việt Nam khuyến cáo: Việt Nam phải chuyển trọng tâm của chính sách dân số từ kiểm soát sinh sang việc lồng ghép các biến số dân số vào quá trình lập kế hoạch phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là, chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn và có vai trò quan trọng trong chiến lược con người và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Vấn đề đặt ra hiện nay là mức sinh ở các khu vực không đồng đều. Khu vực TP.Hồ Chí Minh, tỷ lệ sinh giảm xuống rất thấp, chỉ khoảng 1,35 con/mẹ. Vùng Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng chỉ khoảng 1,5 con/ mẹ. Tuy nhiên, ở các địa phương khu vực Bắc Trung bộ, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, tỷ lệ sinh đang ở mức 2,3-2,5 con/mẹ. Theo Tổng cục Dân số-KHHGĐ, hiện có 3 kịch bản về công tác dân số. Kịch bản 1, khi mức sinh tăng, tỷ suất sinh đạt 2,3-2,5 con/ mẹ thì đến năm 2049, dân số nước ta sẽ đạt mức 140 triệu người. Kịch bản 2, tỷ suất sinh giảm ở mức 1,35 con/ mẹ, quy mô dân số nước ta đạt 95-100 triệu người. Kịch bản 3, duy trì mức sinh hợp lý, khoảng 1,9-2,0 con/mẹ, thì dân số Việt Nam vào năm 2049 sẽ đạt 115 triệu người.

Để không bị rơi vào tình trạng phát triển nóng hoặc già hóa dân số thì điều cần thiết là duy trì tổng tỷ suất sinh luôn dưới mức sinh thay thế, trung bình dưới 2,1 con/ mẹ. Theo đó, kịch bản 3 được coi là kịch bản phát triển dân số nước ta một cách hợp lý nhất trong thời gian tới.

HOÀNG LÊ

;
.