"Rằng, hay thì thật là hay!"

Thứ Ba, 09/05/2017, 22:53 [GMT+7]
In bài này
.

Tại cuộc họp báo ngày 4-5 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn (NNPTNT) và Bộ Công thương đã đưa ra ba biện pháp “giải cứu” ngành chăn nuôi heo khi giá heo hơi xuống thấp chưa từng thấy và “thấp nhất thế giới” - như lời Bộ trưởng NNPTNT Nguyễn Xuân Cường. Một trong ba biện pháp ấy là đẩy mạnh xuất khẩu thịt heo đi các thị trường khác ngoài Trung Quốc. “Rằng, hay thì thật là hay!”; biện pháp là rất đúng, chỉ không hiểu tại sao việc xuất khẩu thịt heo lại chậm hơn so với những nông sản khác cả chục năm trời như vậy.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng thừa thịt heo lần này là do người nuôi ồ ạt tăng đàn chỉ để xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc. Khi thị trường đầy bất trắc này giảm sức mua, lập tức toàn ngành chăn nuôi heo Việt Nam có nguy cơ sụp đổ.

Một câu hỏi tự nhiên nảy ra trong đầu mọi người trước thảm cảnh này, là chẳng lẽ thịt heo Việt Nam không thể bán sang nước nào khác ngoài Trung Quốc? Những nông sản như gạo, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, trái cây tươi đã xuất đi khắp thế giới từ hàng chục năm qua, tại sao ngành chăn nuôi không mở được cánh cửa nào bước ra nước ngoài?

Còn nhớ hồi đương chức Bộ trưởng NNPTNT, ông Cao Đức Phát cũng đã nêu thắc mắc này với ngành chăn nuôi, với các DN chế biến thực phẩm lớn. Câu trả lời nói lên nhiều vấn đề, từ việc Trung Quốc cấm nhập khẩu thịt từ Việt Nam, việc chúng ta chưa có các thỏa thuận song phương về xuất nhập khẩu thịt và thú y, v.v… đến việc chưa có quy trình chăn nuôi an toàn - hay nói tóm lại là vì nhiều khó khăn, nên ngành chăn nuôi mới ra nông nỗi.

Cách giải thích như thế không đứng vững được, vì nếu nói do khó khăn mà không xuất khẩu được thịt heo, thì chẳng lẽ những nông sản xuất khẩu vừa kể tên ở trên gặp dễ dàng, thuận lợi, được phía nước ngoài “trải thảm đỏ” chăng? Không; trái lại chúng còn bị các đối thủ cạnh tranh khốc liệt, bị làm khó vì các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường, vì các hàng rào phi thuế quan do nước chủ nhà dựng lên để bảo hộ hàng trong nước. Như con cá ba sa phải đối mặt với những vụ kiện chống phá giá của các nhà sản xuất cá da trơn tại Mỹ. Như quy định nghiêm ngặt về dư lượng kháng sinh, về yêu cầu chiếu xạ… đối với các sản phẩm nhập khẩu vào Nhật, châu Âu. Nếu không cố gắng “chiến đấu” giành lấy các vị trí để cắm ngọn cờ của mình trên những “chiến trường” như vậy, thì liệu có lối ra nào sáng sủa cho nông sản Việt Nam và ý nghĩa của việc Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới là gì?

Năm 2016, ngành xuất khẩu rau quả của nước ta đạt thành tích ấn tượng, thu về  2,423 tỷ USD, tăng 31,54% so với năm 2015; trong khi xuất khẩu gạo được 2,2 tỷ USD; giảm 21,2% so với năm 2015. Trước đó, năm 2013, xuất khẩu rau quả chỉ được 900 triệu USD, nhưng ngay năm sau đã tăng lên 1,47 tỷ USD, đến năm 2015 đạt 1,85 tỷ USD. Ngành rau quả đang từng bước mở cửa và giữ được thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc, Hàn Quốc, gỡ bỏ được hàng rào kỹ thuật để xuất khẩu xoài đi Úc, thanh long đi Đài Loan, nhãn và vải đi Thái Lan, tiếp tục đàm phán xuất khẩu vú sữa, xoài sang Mỹ; thanh long ruột đỏ sang Nhật, vú sữa, nhãn, vải, chôm chôm sang Hàn Quốc, măng cụt sang Trung Quốc. Những cuộc mở cửa thị trường như vậy nói chung đều không “dễ ăn”; đơn cử việc xuất khẩu xoài vào Nhật, ta phải mất 5 năm chuẩn bị hồ sơ, xây dựng quy trình xử lý dịch hại mới được Nhật chấp thuận.

Nói thế để thấy biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thịt heo sang các thị trường ngoài Trung Quốc được đưa ra quá trễ. Bất kể vì lý do gì, thì sự chậm trễ này cũng thuộc trách nhiệm của hai ngành NNPTNT và Công thương. Phải khai thông con đường xuất ngoại chính ngạch cho thịt heo Việt Nam giống như điều đã làm được với các nông sản khác; còn tổ chức sản xuất ra sao để bảo đảm số lượng, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn của từng thị trường là việc của ngành nông nghiệp và các nhà chăn nuôi.

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam là một quốc gia “tên tuổi” trong ngành chăn nuôi khi đứng thứ 2 thế giới về số lượng vịt, thứ 4 về heo, thứ 6 về trâu và thứ 13 về bò. Ở châu Á, Việt Nam chỉ xếp sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Nhưng nếu chỉ quẩn quanh tiêu dùng trong nước thì năng lực lớn ấy lại là thảm họa. Phải xuất khẩu, đó là giải pháp lâu dài, đúng đắn cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Muốn xuất khẩu phải làm nhiều thứ, nhưng phải làm ngay nếu không muốn tái diễn những cuộc “giải cứu” đầy tổn thất của người nông dân, của xã hội.

HẢI THANH

;
.