60 phút và số con tùy chọn

Thứ Sáu, 20/01/2017, 22:37 [GMT+7]
In bài này
.

Bỏ quy định mỗi ngày được nghỉ 60 phút đối với phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi và vợ chồng được quyết định số con là hai nội dung được Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế soạn thảo tờ trình Chính phủ về đề nghị sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động và xây dựng dự án Luật Dân số.

Đây là những vấn đề lớn và hệ trọng, liên quan sát sườn tới quyền lợi của lao động nữ đang trong thời kỳ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi và chính sách về quy mô dân số của nước ta trong thời gian tới. Dư luận xã hội và ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu đã làm nóng diễn đàn báo chí thời gian gần đây. Số đồng tình cũng có, số cho rằng cần xem xét kỹ trước khi đưa ra những đề xuất nói trên cũng không phải là ít.

Trong dự thảo Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Bộ LĐTBXH đề xuất bỏ quy định “Lao động nữ trong kỳ kinh nguyệt được nghỉ mỗi ngày 30 phút, nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động” (khoản 5, điều 155). Thực tế cho thấy, việc quy định cho lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút là rất cần thiết. Trước hết, các bà mẹ đang trong thời kỳ cho cơn bú có thêm thời gian nghỉ ngơi, có thời gian chăm sóc trẻ, để trẻ bớt bệnh tật, tăng sức đề kháng và về lâu dài, các thế hệ người Việt Nam khỏe mạnh hơn, phát triển chiều cao tốt hơn. Hơn nữa, được nghỉ 60 phút mỗi ngày là thời gian hợp lý cho các bà mẹ thực hiện chủ trương khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ cho đến khi trẻ được 2 tuổi. Không thể vì lý do “ảnh hưởng tới dây chuyền sản xuất” như một số doanh nghiệp đề nghị, để rồi làm ảnh hưởng lâu dài tới các thế hệ con cháu chúng ta. Một cuộc thăm dò dư luận cho kết quả khá chênh lệch: 84% nói không với việc bỏ quy định “lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng được nghỉ 60 phút mỗi ngày”, chỉ có 16% là đồng ý với dự thảo quy định mới.

Đối với nội dung dự thảo “vợ chồng được quyết định số con” Bộ Y tế đưa ra hai phương án về dân số. Một là, áp dụng quy định như hiện hành để các cặp vợ chồng, cá nhân có quyền và nghĩa vụ quyết định tự nguyện, bình đẳng và có trách nhiệm về thời gian và khoảng cách sinh con. Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định... Hai là, các cặp vợ chồng, cá nhân có quyền quyết định thời gian sinh, khoảng cách sinh và số con. 

Lý giải về nguyên nhân chọn phương án 2, theo các chuyên gia của Bộ Y tế, là để bảo đảm quyền sinh sản, bảo đảm tính hợp hiến và phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến công tác dân số. Tuy nhiên, từ chỗ, chỉ được sinh từ 1-2 con, đến vợ chồng, cá nhân “thả cửa” được quyết định số con, thực sự là bài toán nan giải đối với các nhà hoạch định chính sách về mô hình dân số của nước ta trong thời gian tới. Với các quy định và chế tài đang được thực thi, dân số nước ta tăng mỗi năm khoảng 1 triệu người, bằng dân số tỉnh BR-VT hiện nay. Và, với dân số hơn 92 triệu người, Việt Nam là nước có quy mô dân số đứng thứ 14 trên thế giới, thứ 8 ở châu Á, thứ 3 ở Đông Nam Á.

Trong điều kiện kinh tế nước ta chưa phát triển bền vững, công tác an sinh xã hội vẫn còn nhiều bất cập, thì việc “tháo khoán” để các cặp vợ chồng, cá nhân “có quyền quyết định thời gian sinh, khoảng cách sinh và số con” sẽ phát sinh thêm nhiều hệ lụy. Trước hết, Nhà nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát mức sinh và để kiểm soát được thì phải tốn nhiều tiền bạc, công sức trong việc tuyên truyền, vận động người dân hạn chế việc sinh đẻ. Hơn nữa, người Việt ta vốn có tâm lý thích đông con, tư tưởng “đông con nhiều của” vẫn hằn sâu trong tâm thức của nhiều người. Một khi không còn bị ràng buộc về căn cứ pháp lý, không còn chế tài để xử phạt người vi phạm sinh nhiều con, thì việc gia tăng dân số một cách ồ ạt sẽ là điều đương nhiên.

Hai nội dung nêu trên đều liên quan đến vấn đề con người, đến nguồn lực lao động của xã hội. Do đó, đòi hỏi các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách cần xem xét một cách đầy đủ, thấu đáo, nhằm bảo đảm việc nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển bền vững đất nước. 

HOÀNG LÊ 

;
.