Chuyện chưa biết về nghề mổ xác lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam

Thứ Sáu, 21/04/2017, 09:46 [GMT+7]
In bài này
.
Phòng mổ xác ở Nhà xác quân đội Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất.
Phòng mổ xác ở Nhà xác quân đội Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang Quân Giải phóng diễn ra vào Tết Mậu Thân 1968, số lính Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam đã lên đến hơn nửa triệu người và số tử trận cũng theo đó tăng lên. Ngoại trừ những trường hợp chết mất xác vì máy bay bị bắn nổ tung hoặc trúng đạn pháo, hoặc chết trong những vùng rừng núi hiểm trở không thể tìm được, tất cả thi hài lính Mỹ đều được đưa về nước chôn cất. Tuy nhiên, trước khi cho vào hòm kẽm để đưa về Mỹ, các bộ phận nội tạng đều được mổ lấy ra để có thể bảo quản tử thi dài ngày. Từ đó hình thành nghề “mổ xác lính Mỹ chết trận”…

Cuối năm 1966, quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam có 2 đơn vị chính, chuyên làm nhiệm vụ bảo quản tử thi lính Mỹ trước khi đưa về nước. Một đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất và một đặt tại sân bay Chu Lai (tỉnh Quảng Nam hiện nay).

Đơn vị đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất có tên là United States Army Mortuary (Nhà xác quân đội Mỹ). Ông Nguyễn Văn Lành, năm nay 71 tuổi, hiện sống ở huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh kể: “Giữa năm 1968, khi ấy tôi là lính quân y thuộc tiểu đoàn Quân cảnh bảo vệ sân bay thì một cố vấn Mỹ đến gặp tôi, đề nghị tôi sang làm ở bộ phận “chung sự” - nghĩa là chuyên lo tẩm liệm xác chết. Gọi là “đề nghị” chứ thật ra đó là lệnh nên tôi phải chấp hành”.

Chiếm diện tích khoảng hơn 1.000m2 trong sân bay Tân Sơn Nhất, nhà xác quân đội Mỹ đặt ở sau lưng dãy kho chứa phụ tùng máy bay và có lối đi riêng. Nó được chia thành 3 khu là khu mổ xác, khu tẩm liệm và khu bảo quản thi hài. Ông Lành kể: “Khu mổ xác rộng chừng 200m2. Đó là một căn nhà lớn, mái và vách đều bằng kim loại, nền lát gạch bông trơn láng để dễ rửa sạch. Gần sát góc phòng, có 3 chiếc bàn bằng thép không gỉ, là nơi mổ xác. Tất cả lính Mỹ chết trận từ các tỉnh Tây nguyên đến Cà Mau sau khi xử lý ban đầu tại các bệnh viện dã chiến đều được đưa về đây. Có xác còn mới nhưng cũng có xác đã trương lên, bốc mùi vì đang trong thời kỳ phân hủy”.

Việc đầu tiên lúc xác đưa về là làm vệ sinh thân thể. Ông Lành kể: “Sau khi cắt bỏ quần áo, chúng tôi dùng vòi nước rửa sạch máu, bùn đất. Tiếp theo, nếu xác vẫn còn nội tạng, chúng tôi mổ lấy hết rồi may lại. Các vết thương lớn cũng may kín luôn. Xong xuôi, sĩ quan quân y Mỹ tiêm vào tử thi một loại thuốc để có thể bảo quản dài ngày rồi chụp ảnh người chết. Cuối cùng chúng tôi lấy vải bọc kín tử thi, bên ngoài là một lớp bao nylon, cho vào hòm kẽm rồi chuyển sang khu bảo quản”.

Tại khu bảo quản, nhiệt độ luôn được duy trì ở mức 2 độ âm bởi hệ thống máy cấp đông, chạy liên tục cả ngày lẫn đêm. Trong suốt năm 1968, theo ông Lành, ngày nào cũng có xác lính Mỹ đưa về, ít thì 1, 2 xác, nhiều thì 20, 30 xác. Ông nhớ lại: “Lúc mới làm ớn lắm. Ăn cơm nhìn thấy miếng thịt là muốn ói. Đêm ngủ không yên. Hồi trước tôi rất thích món tiết canh lòng heo nhưng đến nay, mặc dù đã gần 50 năm trôi qua, tôi chưa hề ăn lại món đó vì vẫn bị ám ảnh”.

Qua sự giới thiệu của ông Lành, tôi gặp ông Trần Tư, ở quận 8, TP. Hồ Chí Minh, là “đồng nghiệp” với ông Lành trong nghề mổ xác. Theo ông Tư, hồi ấy ông là tài xế lái xe nâng hàng trong sân bay Tân Sơn Nhất, chuyên đưa những chiếc hòm kẽm chứa thi hài lính Mỹ từ khu bảo quản ra máy bay. Ông kể: “Một bữa thiếu người, sĩ quan quân y Mỹ kêu tôi vô phụ rửa ráy cho xác chết. Được vài ngày, họ chỉ cho tôi mổ lấy nội tạng nhưng họ bắt tôi phải cam kết không được tiết lộ chuyện này ra ngoài. Việc mổ lấy nội tạng là cần thiết bởi lẽ một cái xác từ khi cho vào hòm kẽm đến khi đưa về Mỹ, nhanh nhất cũng 3 ngày”.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất với nghề “mổ xác” của ông Tư là giữa năm 1970, ông quen một trung úy phi công Mỹ, lái máy bay phản lực cường kích F4. Ông kể: “Hắn thích tôi vì tôi giỏi tiếng Anh, tôi hay kể cho hắn nghe chuyện phong tục, tập quán, chuyện xã hội người Việt. Có lần tôi còn rủ hắn về nhà ăn cơm. Thỉnh thoảng hắn mua bia trong câu lạc bộ đem xuống mời tôi. Hắn nói không muốn sang Việt Nam nhưng vì là lính nên phải chấp hành mệnh lệnh. Tôi lựa lời khuyên hắn, rằng mày là người ngoại quốc nên mày khó phân biệt ruộng đồng, làng mạc Việt Nam, đâu là nơi người dân sinh sống và đâu là căn cứ Việt Cộng nên nếu mày ném bom bừa bãi, chết dân thì tội lắm”.

Từ đó, viên phi công có vẻ thay đổi. Ông Tư kể tiếp: “Có lần, sau một phi vụ, hắn nói nhỏ với tôi là 8 trái bom napalm mang theo đều được hắn ném xuống vùng rừng núi không người”. Đến cuối năm, trong số những xác lính Mỹ đưa về phòng mổ để xử lý, có một xác cháy đen thui. Lúc nhìn vào tấm thẻ ghi họ tên, cấp bậc, đơn vị, số quân, đeo ở cổ chân xác chết, ông Tư mới biết đó là tay trung úy phi công F4, bị bắn rơi ở Tây Ninh: “Khi rửa ráy cho tử thi, tôi làm rất nhẹ tay vì cứ hễ phun nước vào thì nhiều mảng da cháy đen lại bong ra”. Đến trưa, ăn cơm xong, ông lén đem vào một trái chuối và một lon bia, đặt dưới chân tử thi. Ông kể: “Tôi lâm râm khấn vái rằng lẽ ra tao đốt cho mày mấy nén nhang nhưng nội quy không cho phép, thôi thì cầu mong mày an nghỉ yên lành”.

Cũng như ông Lành, ông Trần Tư làm nghề “mổ xác” đến gần cuối tháng 1-1973 - là thời điểm Hiệp định Paris có hiệu lực thì nhà xác đóng cửa. Trước khi rút đi, lính Mỹ tháo gỡ toàn bộ hệ thống làm lạnh ở khu bảo quản, tháo luôn những chiếc bàn mổ xác. Ông kể: “Lần mổ xác cuối cùng của tôi với anh Lành là hồi giữa năm 1973. Khi đó, một cố vấn Mỹ đội lốt dân sự bị chết trên đường từ Đà Lạt về Sài Gòn. Không có bàn mổ, chúng tôi mổ ngay trên băng ca cứu thương rồi khâm liệm và cho vào túi nylon. Đến gần tối, một máy bay của Air America chở xác đi Thái Lan. Nghe nói người ta đưa sang đó xử lý bảo quản rồi mới đưa về Mỹ”.

Lấy cho tôi xem tấm hình chụp ông đang điều khiển xe nâng, đưa ba chiếc hòm kẽm đựng xác lính Mỹ lên máy bay, ông Tư nói: “Tôi may mắn còn giữ được tấm hình này. Một lính Mỹ chụp cho tôi bằng loại máy ảnh lấy liền”.

VŨ CAO   

;
.