NGƯỜI LÍNH NHẬT 28 NĂM SỐNG TRONG RỪNG RẬM ĐẢO GUAM:

Bài 1: Sống hoang dã chứ không đầu hàng

Thứ Sáu, 10/03/2017, 19:48 [GMT+7]
In bài này
.
Yokoi khi là trung sĩ quân đội Nhật ở đảo Guam.
Yokoi khi là trung sĩ quân đội Nhật ở đảo Guam.

9 giờ tối 24-1-1972, ông Roman Quinata, ủy viên điều hành làng Talofofo, đảo Guam (lãnh thổ Nhật Bản, bị người Mỹ chiếm đóng sau Thế chiến II) bất ngờ thấy 2 nông dân Jesus M. Duenas và Manuel De Gracia đưa đến một người đàn ông lạ. Người đó cao khoảng 1,53m, mặc quần đùi bằng vỏ cây, áo sơ mi cũng bằng vỏ cây đầy cáu bẩn.

TRỐN CHẠY VÀO RỪNG

 

 

Người đàn ông ấy cho biết, mình là trung sĩ Shoichi Yokoi, thuộc Trung đoàn 38 quân đội phát xít Nhật, được gửi đến phòng thủ đảo Guam năm 1943. Sau những trận giao tranh đẫm máu diễn ra gần cuối năm 1944, quân Mỹ chiếm đảo Guam, Shoichi Yokoi cùng 2 người lính khác chạy trốn vào rừng và không tin là chiến tranh đã kết thúc. Ông sống trong hoang dã suốt 28 năm như một “Robinson” cho đến ngày bị phát hiện…

Hai nông dân Duenas và De Gracia kể, lúc 6 giờ 30 chiều 24-1-1972, họ đi kiểm tra bẫy tôm đặt ở ven bờ sông Talofofo. Duenas nhìn lên ngọn đồi trước mặt thì thấy bóng dáng một người đang trong tư thế định bỏ chạy. Người này làm rơi cái túi làm bằng lưới tự chế. Nghi ngờ đây là kẻ trộm tôm, Duenas cùng De Gracia đuổi theo bắt giữ và giao nộp cho ủy viên điều hành làng Talofofo. Sau đó, ủy viên Roman Quinata đưa người đàn ông lên đồn cảnh sát. Tại đây, trước mặt viên Lãnh sự Nhật Bản là Shintaku, ông ta mới khai bằng tiếng Nhật rằng mình tên là Shoichi Yokoi, 58 tuổi, quê quán ở tỉnh Aichi, Nhật Bản. Năm 1941, ông gia nhập quân đội phát xít và được chuyển đến Sư đoàn bộ binh 29, đóng ở Mãn Châu, Trung Quốc. Năm 1943, với cấp bậc trung sĩ, Yokoi được điều sang phục vụ tại Trung Đoàn 38 với nhiệm vụ phòng thủ quần đảo Mariana. Giữa năm 1944, khi đảo Saipan bị quân Mỹ chiếm, ông được đưa đến đảo Guam. Lúc Guam thất thủ, Yokoi cùng 2 người lính khác là Shichi Mikio và Nakahata Satoshi chạy vào rừng trong lúc đơn vị ông báo cáo là ông đã chết. Ông đọc cho Lãnh sự Shintaku nghe mấy cái tên, là những người thân của ông sống ở Nhật.

Sinh ngày 31-3-1915 ở làng Saori, tỉnh Aichi, Nhật Bản, Shoichi Yokoi là thợ may trước khi đi lính. Ông kể: “Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tôi chỉ huy một tiểu đội, đóng quân ở khu vực núi Fena, phía thượng nguồn của sông Talofofo. Mờ sáng 21-9-1944, sau những trận ném bom và bắn phá kinh hoàng bằng đại bác từ những chiến hạm ngoài biển, quân Mỹ đổ bộ lên đảo. Đến tối, chúng tôi được lệnh tấn công vào một vị trí tiền tiêu của lính Mỹ ở vịnh Showa nhưng vấp phải hỏa lực mạnh của xe tăng. Phần lớn những người tham dự trận đánh này đều thiệt mạng, số khác trốn thoát. Riêng tôi cùng 2 đồng đội chạy vào rừng với ý định là sau khi quân Mỹ rút, chúng tôi sẽ tìm đường về đơn vị”.

Bỏ chạy vào rừng, vật dụng mà Yokoi mang theo gồm 1 khẩu súng trường có gắn lưỡi lê với gần 60 viên đạn, 2 quả lựu đạn, 1 cái đèn pin, 1 cây kéo, ít gạo cùng 2 bộ quần áo. Trong cuốn hồi ký viết về 28 năm sống trong rừng, ông kể: “Thoạt đầu, 3 chúng tôi đào một cái hầm dưới một bụi tre, vừa là chỗ ăn ở, vừa là công sự chiến đấu. Thỉnh thoảng, lính Mỹ chạy xe Jeep trên con đường mòn quanh đảo đọc loa phóng thanh, kêu gọi những người lính Nhật còn ẩn náu trên đảo Guam ra hàng vì toàn bộ Guam đã nằm dưới sự kiểm soát của quân Mỹ, nhưng chúng tôi không tin vì cho rằng đó chỉ là sự tuyên truyền bịp bợm. Hơn nữa, họ đi khá xa chỗ chúng tôi ẩn náu nên chúng tôi nằm im vì với số vũ khí ít ỏi, có đánh cũng chẳng thắng được”.

Yokoi lúc được đưa đến trụ sở ủy ban điều hành làng Talofofo.
Yokoi lúc được đưa đến trụ sở ủy ban điều hành làng Talofofo.

SỐNG TRONG HOANG DÃ

Để tiết kiệm lương thực, Yokoi cùng 2 đồng đội quyết định chỉ ăn mỗi ngày 1 bữa cơm, và mỗi bữa mỗi người chỉ 1 chén nhỏ. Những bữa còn lại, họ ăn rau rừng, măng rừng cùng một vài loại củ. Được khoảng 3 tháng, hết gạo, rau, măng cũng khó tìm, Shichi Mikio và Nakahata Satoshi tách ra, di chuyển đến gần bờ sông Talofofo. Đầu năm 1946, Yokoi chuyển chỗ ở của mình đến 1 cái hang nằm trên một sườn núi. Ông Cruz, đại diện Hội Chữ thập đỏ trên đảo Guam cho biết, sau khi cùng cảnh sát tìm đến nơi ẩn náu này, họ tìm thấy một cái hang dài khoảng 3m, rộng hơn 2m, cao 2m, vách ốp bằng thân tre đập dập, sàn hang cũng lót tre. Trong hang có 1 khẩu súng trường không còn bắn được và 2 quả lựu đạn đã rỉ sét, một vỏ đạn đại bác 155mm dùng để đựng nước uống, mấy bộ quần áo làm bằng vỏ cây pago - một loại cây tương tự như cây dâm bụt, dai và chắc - một chiếc kéo cùn, vài cái nồi được gò từ mảnh nhôm máy bay cùng mấy cái bẫy thô sơ và các vật dụng chế biến thức ăn hàng ngày. Đặc biệt nhất là sau 28 năm, Yokoi vẫn còn giữ sợi dây thắt lưng thêu mà theo lời ông, đó là món quà mẹ ông tặng ngày nhập ngũ và một lá cờ Nhật.

Để tồn tại trong thiên nhiên hoang dã, khó khăn nhất đối với Yokoi là thực phẩm. Ông ăn bất cứ thứ gì kiếm được, từ những trái xoài dại đến các loại hạt như hạt dẻ rừng, hạt hoa hướng dương, hạt cầy. Ông cũng mò cua, bắt ốc, bắt tôm, đặt bẫy lươn, chuột, kỳ đà nhưng loại thức ăn quan trọng nhất, để dành được lâu nhất vẫn là những trái dừa khô… Yokoi kể trong cuốn hồi ký: “Hàng ngày, tôi chỉ đun nấu vào lúc sáng sớm vì lúc đó nhiều sương mù, khói bay lên khó bị phát hiện. Với tro cỏ tranh, tôi thu được một hỗn hợp sền sệt và khi để khô, nó là một loại bột có vị hơi mặn”.

Cuối năm 1946, trong một lần đi kiếm thức ăn, Yokoi tình cờ bắt gặp 1 con heo rừng. Ông viết trong hồi ký: “Có vẻ như nó bị bệnh. Thấy tôi, nó hộc lên một tiếng rồi lết xuống vũng bùn”. Do cặp răng nanh con heo khá lớn, đồng thời cũng biết heo rừng là loài rất hung dữ, nhất là khi bị dồn vào đường cùng, Yokoi kiên nhẫn ngồi chờ nó chết. Sau đó, ông cắt thịt con heo thành từng mảnh nhỏ, ướp muối tro rồi đem phơi. Riêng bộ lòng, ông luộc và ăn tất cả những phần có thể ăn được. Sau đó, ông bị đau bụng dữ dội. Ông viết: “Tôi lả đi, đầu óc tôi vẫn tỉnh nhưng tay chân thì không thể cử động được. Bụng tôi quặn thắt từng cơn. Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ chết. Lúc ấy, tôi cảm thấy hối hận vì nếu đem một phần thịt heo chia cho 2 người “hàng xóm” thì có lẽ họ sẽ ghé thăm tôi và giúp tôi sống sót. Nhưng vì đã quy định với nhau là không nên gặp nhau để tránh bị phát hiện nên tôi giữ lại, ăn một mình…”. Bản năng sinh tồn thúc đẩy Yokoi cố gắng bò ra ngoài. Với chút sức lực cuối cùng, ông lấy cái lưỡi lê vạt vào những thân cây xung quanh và hễ thấy vỏ cây nào có vị đắng, ông nhai sống: “Rất may mắn, sau khi nhai mấy nắm vỏ cây đắng như thuốc quinin (thuốc chữa sốt rét), những cơn đau dần dịu đi. Mất gần một tuần, tôi mới hồi phục”.

Lúc này, quần áo của Yokoi đã rách đến độ không còn có thể vá víu được nữa nên ông đã dùng vỏ cây pago để may quần áo. Yokoi tách vỏ cây thành từng sợi mỏng rồi đem phơi, sau đó ông đan thành tấm “vải” lớn rồi vùi dưới bùn trong suốt 1 tuần mà theo lời ông là “để giữ độ dai cũng như để cho nó có màu tối sẫm và đồng thời tiêu tiêu những loại vi sinh vật ký sinh trong vỏ cây ấy”.

Vốn là một thợ may trước khi đi lính nên việc tạo ra bộ quần áo đối với Yokoi không phải là việc quá khó khăn. Ông may được chiếc quần dài và cái áo khoác. Ông viết: “Lúc mới mặc, nó hơi ráp, gây ngứa ngáy khó chịu nhưng chỉ một thời gian ngắn, nó dần mềm đi nên nhiều lúc, tôi cứ nghĩ mình đang mặc một bộ quần áo bằng nỉ”. Cho tới khi bị phát hiện vào ngày 24-1-1972, Yokoi  đã có 3 bộ quần áo gồm 2 quần soóc, 1 quần dài, 3 áo sơ mi ngắn tay cùng 1 áo khoác làm bằng vỏ cây pago. Ông Malvius, một thợ may trên đảo Guam, chủ nhân chuỗi tiệm may “Mals và các con” khi nhìn thấy những bộ quần áo của Yokoi đã thốt lên kinh ngạc: “Thật không còn gì khéo léo hơn khi mà ông ấy chỉ có một chiếc kéo. Áo của ông ấy may cũng có túi và quần thì có đai để xỏ dây nịt”.

Yokoi tạo ra lửa bằng cách dùng mảnh kính của chiếc đèn pin đưa ra trước ánh nắng để hội tụ nhiệt, đốt cháy búi cỏ khô phía dưới. Nhưng một hôm giữa năm 1947, do bất cẩn, ông giẫm lên mảnh kính khiến nó vỡ nát. Yokoi viết trong hồi ký: “Chưa bao giờ tôi thấy mình tuyệt vọng như lúc ấy. Nhặt những mảnh kính vỡ lên, nước mắt tôi chảy ròng ròng. Tôi cố gắng ráp nối nó lại với nhau nhưng nó không thể nào hội tụ nhiệt được nữa”.

Để giữ lửa, Yokoi phải canh chừng cái bếp cả ngày lẫn đêm. Thế nhưng, một tối sau cơn mưa lớn, nước tràn vào hang khiến nó tắt ngúm. Ông viết: “Hôm sau, tôi sử dụng cách lấy lửa của người tiền sử. Đó là dùng hai thân gỗ khô cọ xát liên tục vào nhau. Khi đã có lửa, tôi “để dành” lửa bằng cách tước những sợi xơ dừa, bện thành một đoạn dây. Lửa ở sợi xơ này không cháy thành ngọn, mà nó cháy ngún. Cứ mỗi đoạn dây dài khoảng 2m, tôi giữ lửa được 4 ngày…”.

(Còn nữa)
VŨ CAO
(Theo Private Yokoi’s War and Life on Guam 1944-1972)

;
.