Nhóm cảng biển số 5: Thiếu "nhạc trưởng" điều tiết hàng hóa

Thứ Ba, 14/11/2017, 18:47 [GMT+7]
In bài này
.
Tàu hàng tải trọng lớn cập cảng CMIT.
Tàu hàng tải trọng lớn cập cảng CMIT.

Hội nghị tổng kết đề án nâng cao hiệu quả khai thác quản lý, khai thác cảng biển nhóm 5, các bến cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải được Bộ GT-VT tổ chức tại TP. Vũng Tàu vào ngày 14-11. Tại hội nghị, các nhà quản lý, đại diện các DN đã tập trung thảo luận bàn các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả cảng biển nhóm 5, trong đó tập trung vào các vấn đề: Thực hiện quy hoạch cảng biển, tăng cường kết nối giao thông và điều tiết hàng hóa giữa các khu vực…

HÀNG HÓA QUA CẢNG CÁI MÉP - THỊ VẢI TĂNG

Theo Thứ trưởng Bộ GT-VT Nguyễn Văn Công, nhóm cảng biển số 5 có vai trò quan trọng nhất trong 6 nhóm cảng biển trên phạm vi cả nước. Hàng năm, nhóm cảng biển số 5 đảm nhận khoảng 45% tổng khối lượng hàng hóa và trên 60%  lượng container thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam. Với vai trò quan trọng trong việc thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực phía Nam và cả nước, thời gian qua, nhóm cảng biển số 5 đã được Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương quan tâm đầu tư phát triển cả về hạ tầng cảng biển, hạ tầng giao thông. Nhưng quá trình phát triển cảng biển phát sinh một số vấn đề làm ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư, khai thác hạ tầng cảng biển.

Từ năm 2013, Bộ GT-VT đã lập đề án án nâng cao hiệu quả khai thác quản lý, khai thác cảng biển nhóm 5 và các bến cảng khu vực Cái Mép - Thị Vải. 4 năm qua, Bộ GT-VT đã phối hợp chặt chẽ với UBND: TP. Hồ Chí Minh, BR-VT, Đồng Nai thỏa thuận không quy hoạch xây dựng mới mà đầu tư mở rộng các bến cảng container, bến cảng tổng hợp có khả năng thu hút, chia sẻ hàng hóa của các bến cảng hiện hữu.

Theo ông Nguyễn Đình Việt, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, việc khai thác cảng biển nhóm 5 và các cảng biển khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải từ năm 2013 đến nay đã tạo sự chuyển dịch hàng hóa theo chiều hướng tích cực giữa các cảng biển trong nhóm. Hàng hóa từ khu vực cảng truyền thống từ TP. Hồ Chí Minh đã chuyển dịch ra các cảng mới đầu tư tại Đồng Nai và BR-VT. Tỷ trọng hàng hóa thông qua cảng biển TP. Hồ Chí Minh đã giảm dần từ 65,2% năm 2013 xuống 56,7% năm 2016. Trong khi đó, tỷ trọng hàng hóa qua cảng biển BR-VT  từ 30,6% năm 2013 lên 35,2% năm 2016 và cảng biển Đồng Nai từ 4,2% năm 2013  tăng lên 8% vào năm 2016. Đối với hàng hóa container cũng có sự chuyển dịch từ cảng biển TP. Hồ Chí Minh sang các cảng biển khác và đã tạo sự dịch chuyển hàng hóa theo chiều hướng tích cực giữa các cảng biển trong nhóm.

Vận chuyển hàng container tại cảng CMIT. Ảnh: THANH NGA
Vận chuyển hàng container tại cảng CMIT. Ảnh: THANH NGA

CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VẪN CẦN SỰ ĐIỀU TIẾT

Mặc dù quá trình triển khai thực hiện các giải pháp của đề án, hàng hóa giữa các cảng biển trong nhóm đã có sự dịch chuyển tích cực, tuy nhiên, theo số liệu thống kê năm 2016, các bến cảng tổng hợp, container khu vực Cái Mép - Thị Vải thông qua khoảng 40,9 triệu tấn đạt khoảng 45% tổng công suất thiết kế. Riêng hàng container năm 2016 thông qua các bến cảng Cái Mép - Thị Vải đạt 2,03 triệu Teu, tuy có tăng khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2015 nhưng mới đạt 30% công suất xếp dỡ của các bến cảng container trong khu vực Cái Mép - Thị Vải.

Tại hội nghị, nhiều đại biểu cho rằng, cần tăng cường khả năng thu hút hàng hóa cho các cảng biển tại BR-VT. Ông Phạm Anh Tuấn, đại diện Công ty CP tư vấn thiết kế cảng - Kỹ thuật biển cho rằng, hiện nay, hàng hóa tập trung nhiều tại cảng Cát Lái, trong khi đó, khu vực cảng Hiệp Phước ngay gần đó lại rất ít hàng, cảng Cái Mép - Thị Vải cũng chỉ khai thác được khoảng 30% tổng công suất. Tình trạng này dẫn đến ách tắc hàng hóa tại Cát Lái, ùn tắc giao thông… Hiện không có một cơ quan quản lý toàn diện hoạt động khai thác cảng biển nên khả năng điều tiết chưa tốt, không tận dụng được các bến cảng biển mới đầu tư để tiếp nhận tàu lớn...

Thứ trưởng Bộ GT-VT Nguyễn Văn Công cũng nêu lên thực tế: Các cảng mới được đầu tư gần hơn với biển nhưng lại xa các trung tâm sản xuất tiêu thụ hàng hóa, trong khi hạ tầng giao thông kết nối kém. Cụ thể tại BR-VT, tuyến đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải hiện nay mới được UBND tỉnh chỉ đạo triển khai đầu tư, dự kiến quý IV năm 2017 mới hoàn thành. Riêng cầu Phước An kết nối đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải với khu vực Nhơn Trạch và cao tốc Bến Lức - Long Thành đang trong giai đoạn thực hiện các thủ tục đầu tư và tìm kiếm nguồn vốn triển khai. Tuyến đường sắt và tuyến đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu kết nối khu bến cảng Cái Mép - Thị Vải với vùng hậu phương chưa có nguồn vốn để triển khai. 

Để khắc phục những tồn tại và hạn chế đã nêu, Cục Hàng hải Việt Nam kiến nghị Bộ GT-VT từ nay đến năm 2020 không cấp phép đầu tư mới các bến container trong toàn nhóm, thúc đẩy tiến trình di dời cảng, tăng cường kết nối các cảng, phát triển dịch vụ logistics và công nghiệp hậu cảng, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính tốt hơn. Đối với bến cảng tổng hợp, khu vực BR-VT tiếp tục hạn chế đầu tư các bến cảng tổng hợp mới (trừ các bến cảng đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ GT-VT chấp thuận chủ trương đầu tư). Sau năm 2020, căn cứ vào tình hình khai thác các bến cảng container để xem xét chấm dứt việc kết hợp khai thác công năng hàng tổng hợp tại các bến cảng chuyên dùng container và cấp phép đầu tư mới các bến cảng tổng hợp để đáp ứng nhu cầu thông qua của vùng. Với khu vực TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai tiếp tục hạn chế việc cấp phép đầu tư mới các bến cảng tổng hợp thương mại từ nay đến năm 2020, chỉ cấp phép đối với các dự án cảng phục vụ đầu ra của các hàng hóa trong KCN hoặc thúc đẩy thu hút đầu tư vào KCN (các KCN chưa có cảng).

Ông Vũ Ngọc Thảo, Giám đốc Sở GT-VT tỉnh BR-VT cho biết, với 35 cảng được quy hoạch, trong đó đang hoạt động khai thác 21 cảng, ngoài cảng các tổng hợp, hàng rời, chuyên dụng thì tỉnh còn có 7 cảng container với công suất 6,8 triệu teus/năm. Để các cảng hoạt động hiệu quả, ông Vũ Ngọc Thảo đề xuất, trong thời gian tới, Trung ương cần quan tâm thúc đẩy việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông kết nối như đường cao tốc Biên Hòa đến khu vực Cái Mép Thị Vải; cầu Phước An; kết nối đường thủy nội địa, đường sắt. Đồng thời, cũng cần tăng cường việc kết nối hàng hóa, kết nối giữa cảng và các chủ hàng, nhanh chóng thực hiện hiệu quả thủ tục hải quan; kết nối giữa các cảng của Cái Mép-Thị Vải với nhau trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa.

Bài, ảnh: TRÀ NGÂN, THANH TRÍ

;
.