Kê khai tài sản, thu nhập cán bộ, công chức: Thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát

Thứ Năm, 30/11/2017, 19:13 [GMT+7]
In bài này
.
CBCCVC thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập. Trong ảnh: Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch phường Phước Hiệp, TP.Bà Rịa tiếp nhận hồ sơ làm thủ tục về hộ tịch cho công dân.
CBCCVC thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập.
Trong ảnh: Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch phường Phước Hiệp, TP.Bà Rịa tiếp nhận hồ sơ làm thủ tục về hộ tịch cho công dân.

Minh bạch tài sản, thu nhập (TS-TN) của cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) thuộc đối tượng phải kê khai TS-TN, không chỉ để phòng chống tham nhũng mà còn chống rửa tiền, trốn thuế, chuyển dịch tài sản bất hợp pháp. Thời gian qua, tỉnh BR-VT đã và đang tích cực triển khai nội dung này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề kê khai TS-TN của CBCC chỉ mới dừng lại ở bước thực hiện, còn việc công khai TS-TN chưa được thực hiện đúng quy định.

100% CBCCVC THỰC HIỆN KÊ KHAI 

Trong những năm qua, việc thực hiện các quy định về kê khai TS-TN của CBCCVC trên địa bàn tỉnh đã được thực hiện một cách nghiêm túc, nền nếp, có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Mục đích của việc kê khai TS-TN là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được TS-TN của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch TS-TN của người đó; phục vụ cho công tác quản lý CBCCVC góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng. 

Theo Thanh tra tỉnh, toàn tỉnh có 66 đầu mối cơ quan, đơn vị mà CBCC phải kê khai TS-TN. Qua công tác thanh tra việc kê khai TS-TN của CBCC năm 2016 cho thấy, 100% đối tượng thuộc diện phải kê khai TS-TN ở đầu mối cơ quan, đơn vị đều thực hiện hoàn thành cuối năm 2016. Cụ thể, số người thuộc diện phải kê khai TS-TN là 10.229  người. Trong đó, số bản kê khai lưu giữ tại cơ quan, tổ chức, đơn vị 6.375 bản; số bản kê khai thuộc diện Tỉnh ủy, Thành ủy, Huyện ủy quản lý 2.508 bản; số bản kê khai do tổ chức cấp trên quản lý 1.346 bản. Sau khi có kết quả kê khai TS-TN, các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện công khai bằng hình thức niêm yết tại trụ sở cơ quan đang làm việc và các phòng, ban đơn vị trực thuộc của cơ quan mình (5.135 bản), hoặc công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp (5.094 bản). Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện công khai bản kê khai tài sản bằng nhiều hình thức, bảo đảm theo quy định của pháp luật; chưa có trường hợp nào bị xử lý do vi phạm về kê khai, minh bạch TS-TN.

Chấp hành viên Cục THADS tỉnh làm các thủ tục chuẩn bị cưỡng chế THA một vụ án dân sự. Ảnh: TRIỆU VỸ
Chấp hành viên Cục THADS tỉnh làm các thủ tục chuẩn bị cưỡng chế THA một vụ án dân sự. Ảnh: TRIỆU VỸ

NHƯNG CHƯA ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG PHẢI KÊ KHAI

Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi năm 2012) có quy định về giải trình tài sản tăng thêm. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng cho người kê khai bổ sung, còn người kê khai lần đầu nếu tài sản có giá trị lớn như thế nào cũng không phải giải trình. Đây là “lỗ hổng” lớn trong công tác minh bạch tài sản của người thuộc đối tượng phải kê khai TS-TN.

Theo ông Nguyễn Đức Hiệu, Trưởng Phòng Phòng chống tham nhũng Thanh tra tỉnh, kê khai, công khai và tổng hợp báo cáo công tác minh bạch TS-TN ở một số cơ quan, đơn vị vẫn còn hạn chế. Hầu như các cơ quan chức năng chưa phát hiện, xử lý được vụ tham nhũng nào từ những số liệu trong các bản kê khai TS-TN của CBCCVC. Việc kê khai TS-TN cũng như công khai bản kê khai TS-TN thời gian qua còn mang tính hình thức. Trong đó, không loại trừ có những trường hợp kê khai không đầy đủ, thiếu trung thực. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chưa quy định bắt buộc xác minh tài sản được kê khai, việc kê khai TS-TN, đặc biệt là thu nhập ngoài lương chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập, nhưng mới chỉ dựa vào sự tự giác của người kê khai và chưa có cơ chế kiểm soát chặt chẽ và chưa có chế tài đủ mạnh cho việc xử lý người kê khai thiếu trung thực.

Đơn cử như trong năm 2017, Thanh tra tỉnh đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện minh bạch TS-TN của CBCC 4 đơn vị thuộc UBND TP.Bà Rịa, gồm: Phòng Nội vụ, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố, Phòng TN-MT, Thanh tra thành phố. Qua đó, phát hiện có 1 đơn vị không lập kế hoạch công khai bản kê TS-TN; 1 trường hợp kê khai giá trị nhà mà không kê khai diện tích đất và giá trị đất kèm theo, 8 trường hợp kê khai nội dung giải trình phần thu nhập tăng thêm không đúng quy định, 10 trường hợp ở nhà bố mẹ nhưng không kê khai nhà đất.

Tương tự, qua kiểm tra việc thực hiện minh bạch TS-TN của CBCC 6 đơn vị thuộc UBND TP.Vũng Tàu, gồm: Phòng Nội vụ, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố, Phòng TN-MT, Phòng QLĐT, Thanh tra thành phố, Phòng GD-ĐT, Thanh tra tỉnh phát hiện năm 2016, có 3/6 đơn vị không lập kế hoạch công khai bản kê TS-TN; 3/6 đơn vị công khai tài sản bằng hình thức niêm yết, nhưng không lập biên bản ghi nhận việc niêm yết và kết thúc niêm yết. Kiểm tra ngẫu nhiên một số bản kê khai của CBCC 6 đơn vị nêu trên, phát hiện có 10 trường hợp kê khai giá trị nhà mà không kê khai diện tích đất và giá trị đất kèm theo. Hầu hết các bản kê khai TS-TN đều không có chữ ký của người nhận bản kê khai và người khai, người nhận bản kê khai không ký vào các trang của các bản kê khai (không đúng với quy định tại Thông tư số 08/2013 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn về kê khai tài sản, thu nhập của CBCCVC).

Ông Nguyễn Đức Hiệu, Trưởng Phòng Phòng chống tham nhũng -Thanh tra tỉnh cho rằng, một trong những bất cập lớn nhất hiện nay của việc thực hiện kê khai TS-TN chính là cơ chế kiểm soát việc kê khai cũng như thu nhập của CBCCVC. Mặc dù các quy định của pháp luật là khá toàn diện, nhưng hiệu quả vẫn chưa cao bởi vấn đề kê khai TS-TN hiện nay vẫn còn mang tính hình thức; kê khai xong lại thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ. “Vì vậy, cần phải rà soát, đánh giá lại các quy định hiện hành về kê khai tài sản để có hướng sửa đổi bổ sung chặt chẽ hơn. Cụ thể là phải có cơ quan chuyên trách quản lý, kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của CBCCVC; bản kê khai tài sản phải được công khai ở cơ quan nơi CBCCVC đang làm việc và cả nơi cư trú của họ”, ông Nguyễn Đức Hiệu nói.

Ngày 8-9-2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 09-QĐ/TU về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản đối với cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý. Theo đó, trong thời gian tới, Ủy Ban Kiểm tra Tỉnh ủy sẽ thực hiện kiểm tra, giám sát các nội dung: Việc thực hiện các quy định về kê khai tài sản, biến động tài sản hàng năm thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của cán bộ thuộc đối tượng kiểm tra, giám sát, của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên; việc giải trình về biến động tài sản và nguồn gốc của tài sản tăng thêm. Trình tự, thủ tục kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, được thực hiện theo quy định của Đảng. Việc xử lý vi phạm trong việc kê khai tài sản được thực hiện theo quy định của Đảng và Nhà nước. 

(Đồng chí Đỗ Văn Bửu,
Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy)


Theo quy định tại Nghị định số 78/2013/NĐ-CP về minh bạch TS-TN, TS-TN phải kê khai, gồm: 

Nhà, công trình xây dựng khác đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu; Nhà, công trình xây dựng khác chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu đứng tên người khác; Nhà, công trình xây dựng khác đang thuê hoặc đang sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nước; Quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng; Quyền sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên người khác; Tiền mặt, tiền cho vay, tiền gửi các cá nhân, tổ chức trong nước, nước ngoài mà giá trị mỗi loại từ 50 triệu đồng trở lên; Tài sản ở nước ngoài; Ô tô, mô tô, xe máy, tàu, thuyền và những động sản khác mà Nhà nước quản lý (theo quy định của pháp luật phải đăng ký sử dụng và được cấp giấy đăng ký) có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; Kim loại quý, đá quý, cổ phiếu, các loại giấy tờ có giá trị chuyển nhượng khác có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; Các khoản nợ phải trả có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; Tổng thu nhập trong năm.

Bài, ảnh: TRIỆU VỸ

;
.