KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ (27-7-1947 – 27-7-2017):

Khúc tráng ca Trường Sa

Thứ Sáu, 28/07/2017, 10:53 [GMT+7]
In bài này
.
Duyệt đội ngũ sáng thứ 2 hàng tuần tại đảo Trường Sa Lớn.
Duyệt đội ngũ sáng thứ 2 hàng tuần tại đảo Trường Sa Lớn.

Tháng Bảy về, cả nước sôi nổi tổ chức nhiều hoạt động tri ân những người con ưu tú đã ngã xuống vì độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong dòng chảy tri ân ấy, chúng ta không thể không nhắc tới 64 liệt sĩ đã ngã xuống trong trận “hải chiến Trường Sa” ngày 14-3-1988.

NỖI LÒNG CỦA M

Một ngày trung tuần tháng Sáu, chúng tôi tìm về phường Quảng Phúc, TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình - nơi sinh ra liệt sĩ Trần Văn Phương - người anh hùng Trường Sa với câu nói nổi tiếng: “Hãy để cho máu tô thắm cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân anh hùng” trong trận “hải chiến Trường Sa”. Bên hiên căn nhà cấp 4 nằm sâu trong con hẻm nhỏ, trước mặt tôi là người mẹ già, khuôn mặt phúc hậu. Bà là Hồ Thị Đức (79 tuổi) - mẹ của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND), liệt sĩ Trần Văn Phương. Thấy tôi trong trang phục người lính hải quân, Mẹ hỏi: “Đồng đội thằng Phương phải không con?”, rồi Mẹ mời tôi vào nhà.

Căn nhà của mẹ người lính đảo năm xưa mọi vật dụng đều khiêm nhường, giản dị. Giữa phòng khách là bàn thờ liệt sĩ Trần Văn Phương. Tôi xin phép Mẹ thắp cho anh Phương nén hương với tư cách một người đồng đội. Khi khói hương lan tỏa, cũng là lúc Mẹ khóc. Giọng Mẹ nghèn nghẹn: “Ngày mô tui cũng thắp hương cho nó. Tui vẫn hằng mong có một phép nhiệm màu nào đó đưa nó trở về”. Khi tôi hỏi: “Mẹ còn giữ kỷ vật nào của anh Phương không?”, Mẹ Đức đến bên bàn thờ, vừa đi vừa nói: “Hôm nớ, tui đang nằm, không biết răng mà ruột gan nóng như lửa đốt, vừa bật dậy thì có người đến đưa thư và bảo là của thằng Phương gửi về. Đọc xong thư, tui linh cảm điều chẳng lành. Và sự thực thì đó cũng là lá thư cuối cùng của nó”.

Mẹ Đức đưa cho tôi xem lá thư của liệt sĩ Trần Văn Phương gửi về từ Cam Ranh. Thư đề ngày 8-3-1988. Lá thư nhiều chỗ bị ố nhòe ngả màu vàng theo thời gian, có đoạn: “Tình hình ngoài ni hiện rất nghiêm trọng, Trung Quốc đưa nhiều tàu và quân đội đến để chiếm đảo… Tối ni hoặc tối mai con lại đi tiếp. Đối với con, nhiệm vụ lên đường bảo vệ Tổ quốc, dù có hy sinh con cũng không sợ. Mạ ở nhà giữ gìn sức khỏe nhé. Ra đảo xong rồi con trở về”. Đôi mắt đỏ hoe, Mẹ Đức nhìn lên di ảnh con rồi bà quay lại nói: “Ngày còn sống, thằng Phương rất thương tui. Là anh cả của 3 người em, việc mô cũng đến tay nó. Năm 1988, nó về ăn Tết với gia đình đến mùng 10 tháng Giêng thì trở lại đơn vị. Lúc đi, nó cứ dặn đi dặn lại với tui là ba mạ ở nhà nhớ cắt tóc (thân cây lúa) phơi khô, ra chuyến này đến kỳ nghỉ phép con về tranh thủ kẹp tranh để sửa lại mái nhà cho ba mạ kẻo ở như rứa mưa dột, tội lắm. Ai ngờ, dự định chưa thành thì nó đã hy sinh…”. Mẹ Đức khóc. 29 năm trước, mẹ khóc khi nhận được tin anh Phương hy sinh. Sau 29 năm, mẹ khóc trong niềm thương nhớ con chưa dứt.

DÒNG MÁU TRƯỜNG SA

 Thật tình cờ, ngày khánh thành tượng đài Gạc Ma ở TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (15-7), tôi có dịp gặp gỡ chị Trần Thị Thủy - con gái của liệt sĩ Trần Văn Phương. Chị Thủy nghẹn ngào kể: “Anh biết không, ba em ra Trường Sa công tác, rồi hy sinh tại Gạc Ma mà không hề biết rằng mẹ đã mang thai em ngay sau lần ba về nghỉ phép dịp Tết năm 1988. Cuối năm đó, mẹ sinh em”. Lớn lên, mỗi lần con gái thắc mắc hỏi ba đâu, bà Mai Thị Hoa, mẹ Thủy lại bảo: “Ba công tác ngoài Trường Sa”. Nhưng không thể giấu con mãi được, cuối cùng, bà cũng phải nói cho con gái biết: “Ba Phương hy sinh trước họng súng quân thù tại đảo Gạc Ma”. 

Những câu chuyện về lòng quả cảm của ba, khiến Thủy càng lớn, càng thấy 2 chữ Trường Sa gần gũi như máu thịt của mình. Học xong phổ thông, Thủy viết đơn xin vào đơn vị của ba công tác. Trong đơn tình nguyện phục vụ quân đội, Thủy viết: “Cháu muốn tiếp bước ba mình. Máu ba cháu đã hòa lẫn nước biển Trường Sa. Cháu mang dòng máu Trường Sa vì ba cháu nằm lại nơi ấy”. Rồi Thủy đón xe từ Quảng Bình vào Lữ đoàn 146 Hải Quân (TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa) xin gặp các bác, các chú - đồng đội của ba để bày tỏ nguyện vọng. Các đồng đội của ba đã giúp Thủy toại nguyện ước mơ. Tháng 10-2009, Thủy được nhận vào làm việc tại Lữ đoàn 146 Hải Quân với nhiệm vụ là nhân viên văn thư bảo mật.

Trước tượng đài Gạc Ma, chị Trần Thị Thủy nói với niềm tự hào, xúc động: “Em được về đây công tác từ năm 2009, được tiếp bước cha, vậy là mãn nguyện rồi”.

DÂNG HIẾN TRỌN TUỔI XUÂN

Lần theo địa chỉ do một đồng nghiệp ở xã Hải Bình (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa) cung cấp, chúng tôi tìm đến nhà ông Lê Văn Thăng, cha của liệt sĩ Lê Đức Hoàng (xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia). Căn nhà nhỏ nằm ven sông. Khi chúng tôi hỏi chuyện về liệt sĩ Lê Đức Hoàng, ông nhìn lên bàn thờ, nơi có di ảnh con trai - rồi nước mắt cứ thế trào ra. Câu chuyện giữa chúng tôi bị ngắt quãng nhiều lần bởi những cơn xúc động của ông Thăng. “Nó là đứa con có hiếu và cương trực. Ngày nghe tin nó hy sinh, vợ tôi ngất lịm, rồi nằm liệt giường và mất sau đó vài năm. Hoàng ra đi khi chưa hề biết hò hẹn cùng cô gái nào. Con đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc”, giọng ông nghẹn ngào.

Nhấp ngụm nước trà, ông Thăng cho biết, anh Hoàng là người thông minh và rất có ý chí, luôn nỗ lực học hành cho các em noi theo. 8 năm đi bộ đội, thì 7 năm anh đi học ở nước ngoài. Trong suốt thời gian ấy, anh chỉ nghỉ phép về thăm gia đình 2 lần. Lần nào anh về, ông bà cũng giục giã chuyện lập gia đình, nhưng anh cứ khất lần bảo còn nhiều việc của đơn vị giao phó chưa làm xong. Lá thư duy nhất anh viết về cho bố mẹ một ngày trước khi lên tàu HQ-604 đi Trường Sa. Trong thư anh nói đã được cấp trên cho nghỉ phép từ đầu tháng 3, tàu HQ-604 cũng đã lên ụ để bảo dưỡng, nhưng vì có nhiệm vụ gấp ngoài Trường Sa, nên cả tàu lại chuẩn bị lên đường. Anh còn dặn sau chuyến công tác này sẽ về phép vì nhớ bố mẹ và các em quá… Vậy mà anh đi mãi và không bao giờ trở về nữa.

“Đây là tất cả những gì còn lại. Nó là xương cốt, máu thịt của tôi”, ông Thăng đưa cho chúng tôi xem lá thư duy nhất anh Hoàng gửi cho bố mẹ đề ngày 9-3-1988, trước khi ra Trường Sa công tác một ngày. Lá thư không dài nhưng chứa chan niềm thương yêu bố mẹ và các em ở quê nhà. Thư có đoạn: “Con phải đi đảo Trường Sa cùng các anh em khác. Nơi ấy đang cần những người lính trẻ như con, Tổ quốc đang cần chúng con bảo vệ. Bố mẹ giữ gìn sức khỏe, hoàn thành nhiệm vụ con sẽ trở về và lấy vợ, sinh cháu cho bố mẹ bế bồng…”. Ông Thăng nhìn chúng tôi rồi lại nhìn lên bàn thờ - nơi có di ảnh liệt sĩ Lê Đức Hoàng, mắt ầng ậng nước.

Bài, ảnh: MAI THẮNG

;
.