HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH:

Học đức khiêm nhường của Bác Hồ

Thứ Tư, 19/04/2017, 22:40 [GMT+7]
In bài này
.

Cố Tổng thống Chile, Salvador Allende Gossens, người mà ở Việt Nam biết tới như chính khách quốc tế cuối cùng được gặp Bác Hồ, nhận xét: “Liêm khiết, nhân đạo và vô cùng khiêm tốn là 3 đức tính tiêu biểu của nhà hoạt động chính trị Hồ Chí Minh”.

Những người hiền tài, có bề dày văn hóa luôn khiêm tốn và nhún nhường. Bác Hồ kính yêu của chúng ta thuộc vào bậc chí nhân như vậy. Chuyện kể rằng: Ngày 7-10-1947, trong một cuộc tập kích chớp nhoáng của quân đội Pháp, cụ Nguyễn Văn Tố bị bắt, bị tra khảo và bị giết tại Bắc Cạn. Cụ nguyên là Trưởng ban Thường trực Quốc hội Khóa I, nguyên Bộ trưởng Bộ Cứu tế. Trước tổn thất lớn lao này, Bác Hồ đã viết bài văn tế đưa tiễn cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng viết xong, Người không yên tâm vì lần đầu tiên viết văn tế. Người đã viết thư kèm theo bài văn tế cụ Tố gửi cụ Bùi Bằng Đoàn, cử nhân Nho học. Bức thư rất ngắn gọn nhưng mang đầy sự kính trọng, khiêm nhường của Bác trước cụ Bùi Bằng Đoàn.

Thời điểm viết bức thư ấy, Bác Hồ với cương vị là Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ, còn cụ Bùi Bằng Đoàn là Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh năm 1889, nghĩa là chỉ hơn Bác Hồ đúng 1 tuổi. Vậy mà Bác Hồ dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ “cụ” và “tôi”, kính trọng, lễ phép như đối với thế hệ trước mình. Cụ Bùi Bằng Đoàn có học vấn cao siêu, nhưng nên nhớ rằng, Bác Hồ đã từng học Trường đại học Phương Đông (1925-1927) và Trường Quốc tế Lê-nin (1934-1935); Bác có tác phẩm nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà hàng triệu người trên thế giới biết đến. Ấy vậy mà, Người lại dùng những từ ngữ vừa chân thật, cầu thị, không che giấu bất kỳ hạn chế nào của bản thân, vừa tôn trọng sự hiểu biết sâu rộng của cụ Bùi Bằng Đoàn: “Thưa cụ, tôi muốn có bài truy điệu cụ Tố. Nhưng nhờ người viết thì không biết nhờ ai. Tự viết lấy thì không viết được... Vậy tôi cứ bạo dạn thảo ra đây trình cụ xem. Nếu có thể sửa được thì xin cụ sửa dùm... Vì đối với cụ, tôi không dám giấu dốt”. Chỉ cần đọc bức thư ấy cũng đủ để cắt nghĩa vì sao tổ chức UNESCO lại vinh danh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại!

 Đối với những nhà cách mạng lớn của nhân loại như Các Mác, Ăng Ghen, Lê-nin..., Bác tôn vinh như những người thầy và cố gắng phấn đấu để được làm “người học trò nhỏ của các vị ấy”. Với cán bộ dưới quyền, Người vẫn xưng “tôi”, xưng “Bác”. Với nhân dân, Người luôn coi đó là một trường học lớn và có khi Người xưng mình là “cháu”. Cách xưng hô đó là thực lòng, thực tâm của Bác. Nhưng chính hành vi ứng xử đó lại tỏa sáng phẩm chất khiêm nhường cao quý, làm cho Bác càng vĩ đại hơn trong lòng mọi người.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người viết thư gửi tất cả các thành viên làm việc trong chế độ cũ với tấm lòng chân thành, rằng: “Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú nên mời Ngài, mời các cụ ra giúp ích cho nước, cho dân”. Bằng sự khiêm nhường, Bác không chỉ đã thu phục được nhân tâm, hấp dẫn, lôi cuốn được mọi tầng lớp trong xã hội đi theo, cống hiến cho cách mạng đến trọn đời, mà còn dành trọn được sự kính trọng, tin yêu, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế đối với Đảng, Nhà nước ta.  

Người là mẫu mực của đức khiêm nhường, đồng thời luôn quan tâm giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên về đức khiêm nhường. Ngay sau Cách mạng  thành công, Người cảnh báo, phê phán, uốn nắn những hiện tượng không bình thường xảy ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong thư “Gửi các đồng chí tỉnh nhà” ngày 17-9-1945 và thư “Gửi ủy ban nhân dân kỳ, tỉnh, huyện, làng” ngày 17-10-1945, Bác phê bình thái độ của một số cán bộ “cao cao tại thượng, muốn ăn trên ngồi trốc, không muốn làm đầy tớ mà lại muốn làm phụ mẫu của nhân dân”, “Cậy thế mình ở trong ban này, ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”... Vì vậy, Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “chớ có vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”, rằng: “cán bộ là công bộc của dân chứ không phải để đè đầu dân... Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Những năm gần đây, chính quyền các cấp và đội ngũ cán bộ, công chức đã và đang nhận được ngày càng nhiều hơn sự thiện cảm và hài lòng của nhân dân về thái độ phục vụ. Đó là tín hiệu đáng mừng. Chính phủ vừa mở kênh tiếp nhận thông tin từ nhân dân. Nhiều địa phương đã và đang thực hiện: “Dân đến: chào hỏi; dân ở: luôn tươi cười; dân hỏi: được tư vấn; dân cần: được thông báo; dân yêu cầu: phải tận tâm; dân nhờ: phải chu đáo; dân vội: giải quyết nhanh; dân chờ: phải xin lỗi; dân phàn nàn: phải lắng nghe; dân về được hài lòng”. Đó chính là phẩm chất “nô bộc” cần có của người cách mạng theo đúng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và là bản chất đích thực một Nhà nước của dân, do dân, vì dân mà chúng ta đang phấn đấu gầy dựng.

NGUYỄN QUANG PHI

;
.