Chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V, nhiệm kỳ 2010-2015

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Nhiệm kỳ 2010-2015

Chủ Nhật, 24/10/2010, 20:12 [GMT+7]
In bài này
.

Các đại biểu bỏ phiếu bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Ảnh: Đức Nguyên

Đại hội đại biểu lần thứ V Đảng bộ tỉnh họp từ ngày 21 tháng 10 năm 2010 đến ngày 23 tháng 10 năm 2010 tại thành phố Vũng Tàu

QUYẾT NGHỊ

1- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm 2006 - 2010 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2011-2015 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội:

1.1- Về đánh giá tình hình 5 năm 2006 - 2010

Đại hội khẳng định: 5 năm qua, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV đề ra, đạt được những thành tựu quan trọng, khá toàn diện, có nhiều mặt phát triển mạnh mẽ. Kinh tế đã tận dụng được lợi thế so sánh, phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người khá cao và trở thành tỉnh có quy mô kinh tế lớn trong vùng động lực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tăng dần tỷ trọng dịch vụ, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đã và đang hình thành các trung tâm công nghiệp, cảng, du lịch. Thu ngân sách hàng năm đều tăng cao, đóng góp lớn vào ngân sách quốc gia. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội đạt nhiều kết quả; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Quốc phòng, an ninh được quan tâm, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự xã hội được đảm bảo. Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị có nhiều tiến bộ, đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Những thành tựu nêu trên do Trung ương đề ra nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế phù hợp; Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương trực tiếp chỉ đạo, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của tỉnh. Đảng bộ tỉnh luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất và tạo được đồng thuận cao trong nhân dân đối với việc triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy. Sự nhạy bén, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh Ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

Tuy nhiên, một số mặt còn hạn chế, khuyết điểm: một số tiềm năng, lợi thế của tỉnh chưa được phát huy tốt, sức cạnh tranh của các ngành kinh tế chưa cao; kết cấu hạ tầng của tỉnh chưa đồng bộ, chưa đáp ứng và phục vụ tốt cho yêu cầu phát triển, nhất là đối với hệ thống cảng biển. Các ngành dịch vụ tuy có phát triển, nhưng so với tiềm năng còn nhiều hạn chế. Số lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp còn lớn, nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế. Công tác cải cách hành chính tuy có nhiều cố gắng, nhưng kết quả còn thấp so với yêu cầu. Môi trường đầu tư chưa tương xứng với quy mô kinh tế, còn vướng mắc trong xử lý các thủ tục đầu tư. An ninh trật tự vẫn còn nhiều biểu hiện phức tạp. Văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục phát triển chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế. Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân chưa triệt để. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền còn một số hạn chế; tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý các cấp còn thấp; một số vụ việc chậm được triển khai phát hiện.

Những hạn chế, khuyết điểm trên có nguyên nhân do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới xảy ra vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008; tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, thiếu điện vào mùa khô... đã tác động đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân; làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị xuất khẩu, chuyển vốn đăng ký sang vốn thực hiện; thiếu vốn để đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các dự án và hệ thống giao thông kết nối. Tầm nhìn, khả năng dự báo tình hình còn hạn chế. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đối với một số việc còn chậm, chưa thật quyết liệt, hiệu quả chưa cao.

1.2- Từ thực tiễn và qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, rút ra các bài học chủ yếu:

Thứ nhất là, giữ vững sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng bộ trên cơ sở thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội là nhân tố quyết định làm nên những thành tựu của Đảng bộ.

Thứ hai là, kiên quyết, nhạy bén, cụ thể, bám sát thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết đã đề ra.

Thứ ba là, phát triển kinh tế phải luôn gắn với yêu cầu an dân, đảm bảo tốt an sinh xã hội, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên với bảo vệ được môi trường sinh thái, lấy cải cách hành chính làm khâu đột phá, thường xuyên giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ tư là, phải giữ vững được ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, tạo điều kiện cho mọi người dân và các thành phần kinh tế yên tâm sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

2- Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp 5 năm 2011 - 2015

Đại hội nhất trí:

2.1- Mục tiêu tổng quát phát triển tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết toàn dân; phát triển mạnh kinh tế biển, xây dựng Bà Rịa - Vũng Tàu thành tỉnh công nghiệp và cảng biển theo hướng hiện đại vào năm 2015; phát triển kinh tế gắn với yêu cầu phát triển bền vững; nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; giữ vững ổn định chính trị; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc.

2.2- Chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2011-2015

Về kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân 14%/năm, kể cả dầu khí bình quân 10,8%/năm. Cơ cấu kinh tế công nghiệp, xây dựng 62% - dịch vụ 35% - nông nghiệp 3%, kể cả dầu khí: công nghiệp, xây dựng 66,3% - dịch vụ 31,1% - nông nghiệp 2,6%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,4%/năm, kể cả dầu khí tăng 11,66%/ năm.

- Doanh thu các ngành dịch vụ tăng 24,39%/năm, doanh thu thương mại tăng 25,52%/năm, doanh thu dịch vụ tăng 21,7%/năm, trong đó: dịch vụ du lịch tăng 15,9%/năm, dịch vụ cảng tăng 35%/năm, dịch vụ dầu khí tăng 22%/năm.

- Giá trị xuất khẩu1 trừ dầu khí đạt 7.280 triệu USD, tốc độ tăng 13,5%/năm, riêng xuất khẩu hải sản đạt 1.595 triệu USD, tốc độ tăng 7,84%/năm.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4,46%/năm, trong đó trồng trọt tăng 3,5%/năm; chăn nuôi tăng 6,5%/năm. Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 2,45%/năm. Giá trị sản xuất ngư nghiệp tăng 5,6%/năm.

- Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011-2015 khoảng 240 ngàn tỷ đồng, gấp 2,5 lần so với 5 năm 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng 16,6%/năm.

- Tổng thu ngân sách nội địa trong 5 năm đạt 113.000 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng thu khoảng 10,4%/năm. Tổng chi ngân sách khoảng 39.800 tỷ đồng, tốc độ tăng chi khoảng 9,76%/năm.

Về văn hoá - xã hội

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,04%, mức giảm sinh 0,2%o/năm; tỷ lệ người biết chữ 99%, tỷ lệ học sinh nhập học tiểu học và trung học cơ sở 99,5%, nhập học trung học phổ thông 95%, cao đẳng và đại học 40%. Tuổi thọ trung bình đạt 74 tuổi.

- Số giường điều trị đạt 26,2 giường/1vạn dân; số bác sĩ đạt 6,5 bác sĩ/1 vạn dân; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn dưới 10%.

- Số học sinh phổ thông đạt 1.818 học sinh/1 vạn dân; tỷ lệ huy động các cháu đi nhà trẻ 30% và đi mẫu giáo 85%, riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi trên 95%.

- Giải quyết việc làm và tạo đủ việc làm cho 173.000 lượt người, trong đó tạo việc làm mới cho 85.700 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; tỷ lệ lao động nông nghiệp còn dưới 25,5%.

- Giảm hộ nghèo theo tiêu chuẩn của tỉnh từ 21,69% so tổng số hộ dân xuống dưới 2,35% với tiêu chí những hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn. Cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn mới quốc gia (khống chế tỷ lệ dưới 1%).

- Mức hưởng thụ văn hóa đạt 42 lần/người/năm; 92% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa; 92% thôn, ấp đạt chuẩn văn hóa; 35% dân số tham gia luyện tập TDTT thường xuyên; 98% dân số được xem đài truyền hình; 99% dân số nông thôn được sử dụng điện và nước hợp vệ sinh.

Về môi trường

- Tỷ lệ che phủ cây xanh 44%, tỷ lệ che phủ rừng 13%.

- Cơ sở sản xuất xây dựng mới phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường 100%.

- Các loại rác thải được thu gom và xử lý đạt 95%, trong đó rác thải y tế được thu gom và xử lý đạt 100%.

- 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 100% dự án đầu tư mới phải sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường và phải đầu tư đầy đủ các công trình bảo vệ môi trường, đảm bảo các chất thải khi thải ra môi trường đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường Việt Nam theo quy định.

Về quốc phòng, an ninh

- Tổ chức đủ đầu mối đơn vị, biên chế cán bộ chiến sĩ dự bị động viên đạt trên 95% chỉ tiêu, đảng viên đạt 6,5% so với tổng lực lượng dự bị động viên. Nâng cao chất lượng tuyển quân và đạt 100% chỉ tiêu giao quân hàng năm.

- Xây dựng phường, xã vững mạnh toàn diện đạt 85%. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân sự xã, phường và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đúng quy định đạt tỷ lệ từ 1,4% đến 1,8% so với dân số, đảng viên đạt 18%, trong đó dân quân đạt 15% so với tổng số dân quân.

- Đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình 4 giảm: giảm tội phạm hình sự, giảm tệ nạn ma tuý, mại dâm và giảm tai nạn giao thông.

Về công tác xây dựng Đảng

- Bồi dưỡng lý luận, chính trị cho 100% cán bộ, đảng viên. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước từ 30% trở lên. 100% cấp ủy viên được bồi dưỡng chương trình cấp ủy cơ sở. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ trong và ngoài nước.

- Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy 15%; tham gia các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp từ 30% trở lên.

- Cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh trên 85%, cơ sở đảng yếu kém dưới 1%. 100% các tổ chức thôn, ấp, khu phố; cơ quan trực thuộc đảng bộ xã (phường, thị trấn); các trường công lập đều có tổ chức đảng.

- Trên 80% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phát triển đảng viên mới từ 7% trở lên so với tổng số đảng viên. Tỷ lệ đảng viên trong ngành y tế đạt 25% trở lên; ngành giáo dục đạt 20% trở lên; lực lượng dân quân tự vệ đạt 18% trở lên.

- Công tác kiểm tra, giám sát: cấp ủy các cấp thực hiện Điều 30 của Điều lệ Đảng tăng 10-20% và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện Điều 32 của Điều lệ Đảng tăng 10-20% so với nhiệm kỳ 2005-2010. Đối với các vi phạm, tiến hành kiểm tra, xử lý đạt 100% số vụ việc được phát hiện.

Về công tác Mặt trận, các đoàn thể nhân dân

- Mặt trận Tổ quốc: đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, triển khai có hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động; thành lập 100% Ban giám sát đầu tư cộng đồng tại xã, phường, thị trấn; phấn đấu xây dựng khu dân cư tiên tiến đạt 94%, Ban công tác Mặt trận vững mạnh đạt 75%, Ban Thanh tra nhân dân vững mạnh đạt 75%.

- Liên đoàn Lao động: thực hiện tốt các chỉ tiêu của Chương trình hành động xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tập trung phát triển tổ chức công đoàn, đoàn viên trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước; chăm lo công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp; 60% công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước mở Hội nghị người lao động.

- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, giới thiệu cho Đảng 15.000 đoàn viên ưu tú; tỷ lệ tập hợp thanh thiếu nhi đạt 60%.

- Hội Nông dân: phấn đấu 100% cán bộ hội cơ sở, chi, tổ Hội Nông dân được học tập về pháp luật, khoa học kỹ thuật, kinh tế; phát triển hội viên mới 5% trên tổng số lao động nông dân từ 18 tuổi trở lên chưa tham gia tổ chức hội; hàng năm mỗi cơ sở hội giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp đảng ít nhất 2 đối tượng là hội viên ưu tú; nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ: phấn đấu 75% hội viên được tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và các kiến thức khác; tập hợp 75% phụ nữ trong độ tuổi vào hội; xây dựng 90% chi, tổ hội vững mạnh xuất sắc.

- Hội Cựu chiến binh: Phát triển trên 90% cựu quân nhân vào Hội; giới thiệu kết nạp 100 đảng viên là cựu chiến binh; không còn nhà dột nát cho hội viên; thành lập 350 Câu lạc bộ cựu quân nhân, với 18.000 hội viên tham gia.

2.3. Nhiệm vụ chủ yếu

Dầu khí là một trong những ngành đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của tỉnh. Trong ảnh: Cảng dầu khí Vietsovpetro. Ảnh: Thành Huy

- Phát huy lợi thế biển, bờ biển, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng mạnh tỷ trọng dịch vụ, xác định phát triển cảng là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời phát triển mạnh dịch vụ hậu cần (logistics). Xây dựng hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải trở thành hệ thống cảng trung chuyển của khu vực và quốc tế. Phát triển dịch vụ dầu khí, vận tải; chú trọng đầu tư, phát triển các loại hình dịch vụ mới hiện đại, chất lượng cao.

- Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ở mức gấp 1,8 - 2 lần so với mức bình quân chung của cả nước trên cơ sở chuyển đổi mô hình tăng trưởng, kết hợp hợp lý việc phát triển theo chiều rộng và theo chiều sâu, gia tăng giá trị của hàng hóa, dịch vụ.

- Rà soát điều chỉnh các quy hoạch hiện có, đồng thời lập mới một số quy hoạch để phát triển thành tỉnh công nghiệp và cảng biển theo hướng hiện đại.

- Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, huy động tối đa các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, với mức gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2006-2010. Ưu tiên đầu tư mạnh kết cấu hạ tầng thiết yếu, trước hết là hệ thống đường giao thông kết nối hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải với các đường quốc lộ và các đường vành đai của khu vực; tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các khu du lịch, các khu đô thị và nông thôn.

- Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; tăng tuổi thọ bình quân, nâng cao trình độ học vấn, mức thụ hưởng văn hóa tinh thần và chất lượng cuộc sống người dân. Đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội.

- Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, khám chữa bệnh; hoàn thành thiết chế văn hóa 3 cấp; đẩy mạnh xã hội hóa trên các lĩnh vực: văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao và môi trường.

- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách hành chính, hoàn thiện quy trình một cửa, một cửa liên thông ở các cấp, các sở, ngành gắn với việc ứng dụng công nghệ thông tin và gắn với đào tạo, tăng cường kỷ luật kỷ cương, nâng cao trình độ, trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.

- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh về phát huy dân chủ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.

Nhờ sự tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống cây xanh, đèn điện chiếu sáng, bộ mặt các đô thị trong tỉnh ngày càng khang trang hơn. Trong ảnh: Đường Nguyễn Thái Học, TP. Vũng Tàu. Ảnh: Gia An

2.4. Các giải pháp

- Phát triển kinh tế

Ngành công nghiệp: chọn lọc phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp chế biến, sử dụng công nghệ cao, tiêu tốn ít năng lượng, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, có sức lan tỏa thu hút công nghiệp phụ trợ cùng phát triển để lấp đầy các khu công nghiệp hiện có; giảm dần công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Rà soát, thu hồi các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa triển khai thực hiện. Đồng thời không thu hút thêm các dự án mới về sản xuất thép, xi măng, hoá chất và các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Phát triển công nghiệp lọc, hóa dầu và các loại công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp lọc, hóa dầu; công nghiệp sản xuất container, thiết bị nâng hạ, cơ khí, bao bì, đóng gói phục vụ cho hoạt động của hệ thống cảng.

Rà soát lại quy hoạch, chỉ thành lập mới các khu, cụm công nghiệp trên cơ sở sức chịu đựng về môi trường của tỉnh gắn liền với nhu cầu về số lượng lao động nông nghiệp cần chuyển dịch sang công nghiệp. Quan tâm phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các vùng nông thôn. Trên cơ sở đó sắp xếp lại sản xuất tiểu thủ, công nghiệp trên địa bàn và xây dựng huyện nông thôn mới.

Ngành dịch vụ: phát huy các tiềm năng, lợi thế của tỉnh tập trung phát triển mạnh dịch vụ cảng biển, hậu cần (logistic), du lịch, dầu khí, vận tải, hàng hải và các dịch vụ khác tạo bước phát triển đột phá về dịch vụ giai đoạn 2011-2015. Phát triển mạnh các dịch vụ khác bao gồm dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin truyền thông, kinh doanh bất động sản, tư vấn pháp lý, tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, y tế, giáo dục, đào tạo... góp phần làm tăng mạnh cơ cấu dịch vụ của tỉnh.

Về dịch vụ cảng biển: điều chỉnh quy hoạch cho tàu có trọng tải đến trên 100.000 tấn cập cảng để xây dựng hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải trở thành hệ thống cảng trung chuyển của khu vực và quốc tế; đầu tư hệ thống đường giao thông kết nối hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải với các đường quốc lộ, các đường vành đai của khu vực và sân bay Long Thành để tạo chân hàng vững chắc, khai thác ưu thế vượt trội của tỉnh về cảng nước sâu.

Về dịch vụ du lịch: xây dựng các loại hình, các sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh so với các địa phương ven biển khác. Tập trung phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh; du lịch sinh thái; vui chơi giải trí, du lịch hội thảo, sự kiện... Ưu tiên bố trí vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào các khu du lịch đã được quy hoạch và các dự án du lịch trọng điểm. Tập trung giải quyết tốt môi trường du lịch đảm bảo văn minh, an toàn, thân thiện.

Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Rà soát quy hoạch sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đối với một số diện tích nông nghiệp năng suất thấp sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ có hiệu quả hơn; phát huy tối đa lợi thế về đất đai đối với những diện tích còn lại để nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp, hình thành một số khu nông nghiệp công nghệ cao.

Nâng cao năng suất và giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp. Áp dụng công nghệ sinh học, các giải pháp bảo quản và chế biến trong nông nghiệp. Nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng giá trị nông sản trên một đơn vị diện tích trồng trọt. Phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất - kinh doanh về nông nghiệp đạt giá trị sản lượng trên 50 triệu đồng/ ha. Nâng nhanh tỷ trọng chăn nuôi cho dần ngang bằng trồng trọt, phấn đấu đến năm 2015, tỷ trọng chăn nuôi chiếm 45% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2015 có từ 20% trở lên số xã của các huyện đạt tiêu chuẩn quốc gia về nông thôn mới.

Phát triển thuỷ hải sản theo hướng đẩy mạnh việc nuôi trồng và khai thác biển khơi, tăng cường chế biến xuất khẩu đồng thời chú trọng đến tiêu dùng nội địa. Duy trì khai thác hải sản ở quy mô hợp lý. Khuyến khích ngư dân đầu tư tàu lớn, trang thiết bị hiện đại khai thác hải sản xa bờ. Không phát triển thêm tiến tới giảm dần số tàu nhỏ khai thác ven bờ. Sớm đầu tư xây dựng khu chế biến hải sản tập trung của tỉnh để đến năm 2015 di dời các nhà máy trong khu dân cư và trong đô thị vào khu chế biến tập trung. Duy trì nuôi trồng thuỷ sản ở quy mô hợp lý tại Vũng Tàu, Phước Tỉnh, Long Hải, Phước Hải, Bình Châu, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường, sự phát triển hài hòa giữa các ngành du lịch và hải sản, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh ven biển.

Bảo vệ và phát phuy giá trị rừng hiện có, đặc biệt là khu vườn Quốc gia Côn Đảo, khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, khu rừng ngập mặn Phước Cơ và các khu rừng ngập mặn đã được quy hoạch.

- Phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao đáp ứng yêu cầu nâng cao sức khỏe phục vụ đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội.

Tăng mức đầu tư của ngân sách cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, đầu tư cho phát triển giáo dục. Đảm bảo 100% xã, phường có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; không tính huyện Côn Đảo, các huyện còn lại có từ 3-4 trường trung học phổ thông trở lên. Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông các cấp, phấn đấu đến năm 2015, có 40-50% số trường học bậc mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia, toàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập mầm non 5 tuổi. Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế biển và phục vụ việc chuyển dịch lao động nông nghiệp, nông thôn để tăng nhanh tỷ lệ lao động nông nghiệp chuyển sang dịch vụ và công nghiệp. Hỗ trợ dạy nghề trong 5 năm cho 40.000 lao động nông thôn và lao động bị thu hồi đất.

Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh đổi mới công nghệ, thiết bị; phối hợp với các viện nghiên cứu, các trường đại học nghiên cứu, ứng dụng, đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, trước hết là sản xuất nông nghiệp, đổi mới giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao. Xây dựng các giải pháp để thu hút hơn nữa các nhà khoa học vào công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các công trình kinh tế - xã hội lớn của tỉnh.

Tập trung đầu tư xây dựng, trang bị, đưa vào sử dụng bệnh viện Bà Rịa 700 giường, bệnh viện Vũng Tàu 350 giường, bệnh viện Y học dân tộc, Lao và bệnh phổi, Phụ sản, Nhi, Mắt, Điều dưỡng - phục hồi chức năng; các Trung tâm cấp cứu 115, Trung tâm nội tiết, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm sức khoẻ môi trường - vệ sinh lao động và bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế huyện, các trạm y tế cấp xã. Đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm điều trị, điều dưỡng, các bệnh viện chuyên khoa cao đạt trình độ chuyên môn khu vực và quốc tế. Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, trong cộng đồng dân cư. Nâng cao lượng phát sóng của đài Phát thanh Truyền hình tỉnh, tăng số buổi biểu diễn văn nghệ, chiếu phim. Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, nâng cao thành tích các môn thể thao thế mạnh của tỉnh.

Tăng cường biện pháp đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững, không để tái nghèo. Bước đầu xây dựng tiêu chí cho các hộ từ thu nhập thấp vươn lên thu nhập trung bình và khá bằng các chính sách hỗ trợ dài hạn để thay thế dần chương trình xóa đói giảm nghèo. Đầu tư phát triển mạnh nhà ở xã hội để đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp, cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, công nhân trong các khu công nghiệp và nhà ở cho sinh viên. Chăm lo đời sống các hộ dân trong các khu vực giải tỏa; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Đảm bảo tốt an sinh và phúc lợi xã hội. Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo trợ xã hội. Thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công, đối tượng chính sách. Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc. Xây dựng, thực hiện chương trình hàng động vì trẻ em giai đoạn 2010-2015.

- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường và quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên, khoáng sản; không thu hút dự án đầu tư theo 05 nhóm ngành được Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến cáo. Triển khai chương trình ứng phó, thích nghi với sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng cao. Ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường do nước thải. Phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường do khí thải. Tăng cường quản lý và xử lý chất thải rắn. Từng bước thu gom riêng và xử lý nước thải đô thị; kiểm soát nguồn phát sinh nước thải công nghiệp; tổ chức thu gom, xử lý nước thải bệnh viện, trung tâm thương mại, chợ và các cơ sở sản xuất chế biến hải sản... đạt chuẩn môi trường trước khi thải ra môi trường. Kiểm soát ô nhiễm bụi trong đô thị và các khu công nghiệp. Hạn chế ô nhiễm do mùi hôi từ vận chuyển, gia công, chế biến hải sản trong đô thị. Rác thải nguy hại công nghiệp và y tế phải được phân loại tại nguồn, lưu giữ, vận chuyển, xử lý đúng theo quy định, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân.

Tăng cường năng lực công tác thanh tra, kiểm tra, quan trắc, giám sát, đánh giá tác động môi trường và công tác hậu kiểm. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra các hoạt động khai thác khoáng sản, tập trung vào việc khai thác đất cát san lấp trên địa bàn các huyện và các vùng ven cửa sông, cửa biển; các hoạt động khoan thăm dò nước ngầm và khai thác tài nguyên nước. Kiên quyết xử lý theo quy định của pháp luật đối các trường hợp khai thác không phép, không đúng quy hoạch, có nguy cơ gây sạt, lở đối với các vùng xung quanh.

- Phát triển các huyện, thị, thành phố. Xây dựng thành phố Vũng Tàu trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2015, ngày càng có vị trí quan trọng cho sự phát triển của tỉnh, là đô thị du lịch, dịch vụ “xanh, sạch, đẹp, thân thiện, ấn tượng”. Quy hoạch phát triển Gò Găng thành một Trung tâm đô thị - dịch vụ đa ngành; xây dựng khu công nghiệp lọc hóa dầu Long Sơn; quy hoạch và đầu tư du lịch ở núi Lớn - núi Nhỏ. Xây dựng thị xã Bà Rịa trở thành thành phố loại II vào năm 2015, là trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh, phát triển mạnh dịch vụ - thương mại. Tập trung đầu tư, xây dựng và phát triển đô thị mới Phú Mỹ với tính chất là đô thị cảng và công nghiệp, dịch vụ, đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV trước năm 2015, đạt tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2020. Dành toàn bộ diện tích đất khoảng 1.000ha tại Cái Mép hạ để phát triển dịch vụ hậu cần sau cảng, gắn liền với hệ thống cảng Cái Mép; quy hoạch phát triển quần thể khu du lịch Núi Dinh; tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị của thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa để kết nối tạo thành hệ thống đô thị cảng Vũng Tàu - Phú Mỹ.

Nông dân Long Điền thu hoạch lúa. Ảnh: Hoàng Dung

Phát triển vùng kinh tế nông, lâm nghiệp ở các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Đất Đỏ, hình thành các mô hình xã, huyện nông thôn mới. Từng bước phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn như chương trình giao thông nông thôn, nước sạch nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, điện nông thôn phục vụ đời sống nhân dân và sản xuất nông nghiệp theo mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Phát triển Côn Đảo theo hướng xây dựng thành Khu kinh tế du lịch - dịch vụ chất lượng cao. Xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống cấp và thoát nước, cấp điện; nâng cấp sân bay, bến cảng, tôn tạo, bảo tồn di tích lịch sử và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch.

- Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm chính trị - xã hội ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân và khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc; xây dựng thế trận lòng dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện tham gia đấu tranh có hiệu quả, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.

Kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường quốc phòng - an ninh, với phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và xây dựng lực lượng quân sự, công an, biên phòng đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh với những quan điểm sai trái, cơ hội chính trị, tự diễn biến, diễn biến hòa bình, khủng bố, bạo loạn lật đổ. Tăng cường công tác an ninh nông thôn, bảo đảm trật tự - an toàn xã hội.

- Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị. Đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phòng ngừa suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục và tính hiệu quả. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, tích cực chủ động hội nhập quốc tế. Nâng cao tính thiết thực, ý nghĩa giáo dục trong hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn. Đưa việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu và trở thành công việc thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 10-CT/TW, nâng cao tính chính trị, tính chiến đấu, tính xây dựng trong tổ chức và sinh hoạt chi bộ.

Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cán bộ đến năm 2020. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa, tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ, công tác phân loại đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ cấp ủy các cấp. Tập trung kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ trong đảng, đoàn kết nội bộ và công tác cán bộ; việc thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách thủ tục hành chính; hoạt động tư pháp. Nâng cao trách nhiệm ủy ban kiểm tra các cấp trong việc giải quyết, kết luận đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đảng viên và cán bộ trong diện quản lý. Củng cố, kiện toàn cơ quan thanh tra, kiểm tra; nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý tình huống, phẩm chất nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra các cấp.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Phát huy tính chủ động, sáng tạo, tôn trọng các nguyên tắc, đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của từng tổ chức trong hệ thống chính trị. Thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể, cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Tăng cường kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong việc chấp hành và thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao. Đẩy mạnh công tác dân vận của chính quyền các cấp, xây dựng cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát, chức năng phản biện xã hội và tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác.

- Tạo sự chuyển biến về chất lượng, trong hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý và hoạt động điều hành của HĐND, UBND các cấp. Chuẩn bị tốt cho bầu cử Quốc hội khóa XIII và HĐND khóa V, nâng cao một bước trình độ đại biểu dân cử. Đổi mới, nâng cao chất lượng các kỳ họp, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát theo chức năng và thẩm quyền. Tiếp tục lấy cải cách thủ tục hành chính làm khâu đột phá trong cải cách hành chính; tập trung rà soát, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn II của Chính phủ. Tập trung chỉ đạo giải quyết một cách triệt để tình hình khiếu nại tố cáo của công dân. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. Tăng cường công tác giám sát của Thường trực, các ban HĐND. Tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp; thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng và thực hiện các quy chế phối hợp, chương trình phối hợp giữa UBND với UBMTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2002 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; không làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; khắc phục việc kéo dài thời gian điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Phát huy vai trò Hội thẩm nhân dân, nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên. Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), tích cực phòng ngừa, kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

- Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ, Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; cụ thể hóa cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và tham gia quản lý xã hội. Tiếp tục quán triệt, tổ chức có hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án đối với đồng bào dân tộc thiểu số; các chỉ thị, nghị quyết, pháp lệnh của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.

Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, đoàn viên - thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; xây dựng gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái trở thành công dân có ích cho xã hội và tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội trong đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Phát triển mạnh tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên và các tổ chức hội nghề nghiệp.

3- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IV. Từ kinh nghiệm của khoá trước, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V cần tiếp tục phát huy ưu điểm, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cho nhiệm kỳ tới.

4- Thông qua các báo cáo tổng hợp ý kiến của tổ chức đảng các cấp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.

5- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V gồm 55 đồng chí và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng gồm 14 đồng chí đại biểu chính thức và 2 đồng chí đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các ban đảng Trung ương có liên quan để quyết định chuẩn y theo quy định.

6- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng bộ tỉnh đã đề ra, góp phần xứng đáng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng trong thời kỳ mới.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V

-------------------------------------------------------------

1. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn đạt 32.703 triệu USD, giảm 3,34%/năm; riêng xuất khẩu dầu khí đạt 25.713 triệu USD, giảm 7,12%/năm.

;
.