Quan điểm luật sư về vụ "bỗng dưng bị đuổi ra khỏi nhà?": Ông Sơn không có quyền uy hiếp, cưỡng chế người khác

Thứ Tư, 09/11/2016, 23:28 [GMT+7]
In bài này
.
Căn nhà số 08 Hàn Mặc Tử, phường 7, TP. Vũng Tàu.
Căn nhà số 08 Hàn Mặc Tử, phường 7, TP. Vũng Tàu. Ảnh: LAN BÌNH

Sau khi Báo BR-VT số ra ngày 8-11 đăng bài viết: “Bỗng dưng bị đuổi ra khỏi nhà?” phản ánh việc mẹ con bà Trần Thị Biên đang sinh sống tại nhà số 08 Hàn Mạc Tử, phường 7, TP.Vũng Tàu, bị ông Phạm Hồng Sơn và một số người đến vứt đồ đạc và đuổi ra khỏi nhà, dư luận rất bức xúc và có nhiều ý kiến khác nhau. Báo BR-VT trích đăng ý kiến của Luật sư Tạ Thị Bích Thuận (Giám đốc Công ty Luật Tín Đức, phường 7, TP.Vũng Tàu) như sau:

Qua thông tin báo BR-VT phản ánh trong bài viết “Bỗng dưng bị đuổi ra khỏi nhà?” và thông tin do bà Biên cung cấp, tôi cho rằng, hành vi cho người đến đuổi mẹ con bà Biên ra ngoài đường, xâm phạm đến tài sản của gia đình bà Biên của ông Phạm Hồng Sơn là không đúng theo quy định pháp luật. Việc ông Sơn cho rằng mình có quyền đối với căn nhà và đất là nơi mẹ con bà Biên đang sinh sống là không có cơ sở pháp lý. Bởi lẽ ông Sơn chưa đưa ra được chứng cứ chứng minh rằng ông Sơn đã nhận chuyển nhượng và đứng tên, có quyền sở hữu và có quyền sử dụng căn nhà và đất nêu trên. Theo ông Sơn mình đã ký giấy mua bán với các đồng thừa kế để mua căn nhà mẹ con bà Biên đang ở. Tuy nhiên, cho đến thời điểm xảy ra sự việc, ông Sơn chưa cung cấp được Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Sơn. Theo quy định của pháp luật, ông Sơn chưa có quyền đối với căn nhà và đất nêu trên.

Việc ông Sơn căn cứ vào Giấy biên nhận và cam kết được công chứng tại Văn phòng Công chứng Nam Hải (phường Đằng Hải, quận Hải An, TP.Hải Phòng) để xác định ông Sơn có quyền đối với căn nhà và đất nêu trên là hoàn toàn không đúng theo quy định pháp luật. Vì Giấy biên nhận và cam kết này không phải là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ông Sơn cũng chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nên ông Sơn không có quyền để đuổi mẹ con bà Biên ra khỏi nhà.

Mặt khác, căn cứ vào các quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, Luật Đất đai 2013, ông Sơn chưa có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với căn nhà và đất nêu trên. Bên cạnh đó, căn cứ vào phần Xét thấy của Bản án số 157/2009/DSST ngày 30-12-2009 của TAND tỉnh BR-VT ghi nhận: “Các đồng thừa kế có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục đứng tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, sau đó bán để chia đều cho các đồng thừa kế”, để quyền và lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ, ông Sơn có quyền yêu cầu TAND có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, chứ không thể tự ý xông vào nhà người khác cưỡng chế, uy hiếp để đuổi họ ra khỏi nhà. Như vậy là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

Về phía bà Trần Thị Biên, bà Biên không có quyền về tài sản đối với căn nhà trên. Tuy nhiên, bà Biên là giám hộ của con trai- con chung của bà Biên và ông Minh (người có một phần thừa kế đối với căn nhà trên). Do vậy, để đảm bảo sự an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Đức (con trai bà Biên và ông Minh), bà Biên có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, địa phương có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Hoặc bà Biên có thể liên hệ với Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh BR-VT để được trợ giúp pháp lý miễn phí.

KHÁNH LY

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

 Điều 168. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản

1. Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điều 439. Thời điểm chuyển quyền sở hữu

1. Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sản được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó

Điều 689. Hình thức chuyển quyền sử dụng đất

1. Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Điều 692. Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất

Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Luật Đất đai 2013:

Điều 95. Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

7. Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính.

 

;
.